Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Bức tranh

                                                                                                        Truyện ngắn
                                                                                                                              Nguyễn Minh Châu

HG: Mình post truyện ngắn này- một người Bạn gửi- Mình dành tặng cho ngày 22 tháng 12... Nhưng ai đã đọc đến dòng cuối rồi mà còn bảo rằng truyện chỉ dành cho những người lính?!


        Tôi là một họa sĩ. Tôi không phải là một người viết văn. Tôi phải tự giới thiệu như vậy ngay từ đầu, không hề có ý muốn mong chờ hay cầu khẩn nơi các bạn đọc một thái độ rộng lượng. Ngay từ đầu, tôi phải nói vậy để tự dặn mình, tự ra lệnh cho mình, tôi viết chuyện này ra đây là viết cho tôi, cho một bức tranh tôi vừa vẽ xong. Thứ nữa, tôi viết cho một người thứ hai. Viết cho tôi hoặc cho một người thứ hai, một người thợ cắt tóc, thì những điều tôi sắp viết ra đây cũng chỉ là những lời tự thú.
        Không biết đã bao nhiêu tháng nay, từ cái hôm vô tình tôi đến cắt tóc ở cái hiệu đó và phát hiện ra anh thợ cắt tóc đó, tháng nào tôi cũng tự bắt buộc mình đạp xe hai ba cây số đến cắt tóc ở đó. Cũng đã không biết bao nhiêu tháng nay, tôi cặm cụi để hết tâm sức vẽ một bức tranh sơn dầu. Sơn dầu vốn là một chất liệu không phải thuộc sở trường của tôi, nhưng với cái nội dung đó, tôi không muốn dùng thuốc nước hay sơn mài. Thuốc nước, cái nghệ thuật chấm phá của thần bút cũng như không khí lấp lánh hư ảo của sơn mài không thỏa mãn tôi, – tâm trạng một họa sĩ muốn dùng ngọn bút vẽ để tự tìm hiểu mình, tự phán xét mình. Sáng nay tôi đã vẽ xong, và lúc này, tôi đang ngồi trước bức tranh tự họa của mình, tự đối diện với mình. Các bạn hãy thử tưởng tượng khuôn mặt của một người khách đang ngồi như bị đóng đinh vào chiếc ghế mộc của một cửa hiệu cắt tóc, với một tấm khăn choàng trắng buộc trùm kín ngực. Một cái mặt người rất lớn chiếm gần trọn bức tranh. Những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa cái đầu tóc tốt rợp như khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Khuôn mặt của người khách: một cặp mắt mở to nhìn trừng trừng vào luồng ánh sáng, một cái nhìn khắc khoải, bồn chồn, kinh ngạc và đầy nghiêm khắc. Phần bên dưới của khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: cái cằm hai bên mép bị phủ kín bởi bọt xà phòng. Không thấy rõ cái miệng, chỉ trông thấy một vệt lờ mờ mầu đen nổi bồng bềnh trên đám bọt xà phòng phồng to.
     Cái khuôn mặt đó thoạt nhìn thật xấu xí và lạ lùng, nhưng càng nhìn lâu càng giống tôi. Đó là khuôn mặt của mình, khuôn mặt bên trong của chính mình, tôi tự nhủ thầm. Đó là khuôn mặt của tôi lúc ngồi trên chiếc ghế mộc, đầu kê trên thành chiếc ghế được lót bằng một khúc gỗ lõm có lót da và đang ngước nhìn lên, đối mặt với người thợ cắt tóc.
     Để các bạn dễ theo dõi, tôi phải kể ngay rằng cách đây khoảng tám năm, tôi đang công tác ở một chiến trường cực kỳ xa xôi giáp biên giới miền Tây Nam Bộ.
     Khi nhận được lệnh trở ra miền bắc để cùng các họa sĩ ngoài Hà Nội chuẩn bị một cái triển lãm ở nước ngoài, thì tất cả tranh và ký họa của tôi vẽ trong mấy năm đã chất lên đầy một cái sạp lán giữa rừng căn cứ. Tôi lọc lấy chỉ độ một phần ba, vậy mà trên đường tôi đi ra, các đồng chí phụ trách các trạm giao liên trên từng chặng từng chặng một, phải thay phiên nhau cử một chiến sĩ của trạm đi theo “thồ” tranh cho tôi.
     Hôm đó, đoàn chúng tôi đi qua một vùng trên đất bạn nổi tiếng nhiều biệt kích, lại rất đói, cũng là cái “rốn” của bệnh sốt rét. Chúng tôi được nghỉ lại một ngày để dưỡng sức, lán của nhóm khách đi đường chúng tôi dựng ngay trên đầu một cái lán khác của anh em chiến sĩ trong trạm. Buổi trưa, tôi đang ngồi vẩn vơ ghi mấy cái dáng hòn đá, thân cây trước lán nghỉ của mình, thì trông thấy một người chiến sĩ nước da xam xám và cặp môi thâm sì đang leo mấy bậc dốc từ lán dưới đi lên. Người chiến sĩ đi thẳng đến trước mặt tôi ngồi xuống xem tôi vẽ. Rồi sau mấy câu chuyện làm quen, người chiến sĩ tha thiết thỉnh cầu tôi vẽ cho anh một bức chân dung.
      Tôi bỗng thấy tự ái. Tôi là một họa sĩ, chứ đâu phải một anh thợ vẽ truyền thần(!) Tôi từ chối khéo bằng cái mặt lạnh lùng. Người chiến sĩ tỏ vẻ phật ý, anh nhìn vào cái mặt lạnh lùng của tôi một thoáng rồi lẳng lặng quay lưng lại tôi, chậm rãi đi xuống dưới những cái bậc dốc.
     Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Thật một điều không ngờ, chẳng biết ai xui khiến thế nào mà chính người chiến sĩ trưa hôm qua lại “thồ” tranh cho tôi, chính lại là anh chứ không phải một người nào khác. Thật là phiền cho tôi quá!
     Vừa ra khỏi trạm, người dẫn đường đã báo cho khách biết trên dọc đường phải vượt thật nhanh khi leo một con dốc, sau đó là một con suối rất trống trải, đã có một vài đoàn bị bọn biệt kích bắn lén hoặc máy bay thám thính phát hiện. Cái nghề đi đường rừng nó là như vậy, nói một chữ chung chung là đèo, dốc, suối… nhưng ở thực địa mặt mũi chúng chẳng chỗ nào giống chỗ nào cả. Đi đến quá trưa, chúng tôi gập lưng lại, lội qua một quả núi đất không dốc lắm, mọc đầy cỏ tranh đang trổ bông rất đẹp và lác đác có những hòn đá tai mèo. Những vỉa đá tai mèo mọc lởm chởm giữa cỏ tranh mỗi lúc một dày, và khi quả núi đổ sang sườn dốc bên kia thì chỉ có rặt đá tai mèo đen kịt, chúng tôi vừa thở dốc ra cả bằng mũi, bằng tai, năm ngón tay bịt chặt lấy chỏm đầu từng hòn đá một mà lần xuống.
     Ác thay cái bãi đá tai mèo nằm giữa khúc suối dưới chân núi. Có lẽ nó rộng đến năm trăm thước. Con suối chảy đến đấy thì phình rộng ra chảy lênh láng và réo lên ầm ầm trên một cái nền đá lởm chởm. Tuy đã được nghỉ một ngày nhưng sau khi leo qua được quả núi thì tôi đã thấm mệt. Tôi dò dẫm đi giữa khúc suối một cách vất vả quá, cứ dần dần bị tụt lại sau. Rồi chân tôi tự nhiên bị sỉa xuống một hẻm đá ngầm dưới nước. Tôi giơ hai tay lên trời chới với…
     Người chiến sĩ “thồ” tranh cho tôi đang đi phía trước, cách một quãng khá xa, vội vã quay lộn lại. Nếu anh không đến kịp có lẽ là tôi bị dòng suối cuốn đi. Anh cởi chiếc ba lô sau lưng cho tôi, khoác vào trước ngực mình. Anh đỡ lấy tôi, giúp tôi rút cái chân lên. Rồi dìu tôi đi. Tôi thở dốc. Mồ hôi vã ra như tắm. Hai mắt đổ đom đóm.
-   Đồng chí cố gắng lên – Người chiến sĩ vừa đi vừa động viên tôi – Tôi dìu đồng chí đi nhanh qua bên kia suối sẽ nghỉ. Nếu thằng L.19 đến, chúng mình cứ ngồi xuống. Nó chẳng thấy gì cả đâu!.
     Tôi không đủ sức theo kịp đoàn được nữa. Qua bên kia suối, người chiến sĩ lấy dầu con hổ bóp chân cho tôi, lúc ngồi nghỉ. Rồi bắt đầu từ đó, chỉ có hai người, anh và tôi, đi trong rừng. Tôi chỉ có thể đi người không. Người chiến sĩ vừa phải “thồ” đống tranh của tôi sau lưng (to và nặng gấp đôi một cái ba lô bình thường của khách đi đường) lại vừa phải mang thêm chiếc ba lô riêng của tôi trước ngực. Có lẽ tất cả đến sáu bảy chục cân. Mà người chiến sĩ có khỏe mạnh gì cho cam!
     Tôi không nói thì chắc các bạn cũng biết, ngay từ lúc người chiến sĩ đến gặp tôi để nhận mang cái bó tranh, tôi đã khó xử đến thế nào? Thế mà bây giờ, trên dọc đường, không những riêng cái đống tài sản của tôi mà cả chính tôi cũng đã trở thành một gánh nặng cho anh. Xưa nay tôi vẫn cho mình là một kẻ cũng biết tự trọng, và cũng biết suy nghĩ. Giá người chiến sĩ tỏ thái độ lạnh nhạt hoặc mặc xác tôi nằm lại một mình, tập tễnh đi một mình giữa rừng, thì tôi cũng thấy là cái lẽ phải. Xưa nay tôi vẫn quan niệm rằng: sống ở đời, cho thế nào thì nhận thế ấy. Cái cách cư xử của người chiến sĩ đối với tôi chỉ có thể giải thích bằng lòng độ lượng. Độ lượng? Thế nhưng tôi nhiều tuổi hơn? Tôi lại là một họa sĩ có tên tuổi? Xưa nay tôi chỉ mới thấy lòng độ lượng của kẻ trên đối với người dưới. Bây giờ đây thì chính tôi, một kẻ bề trên, đang được một người dưới tỏ ra độ lượng với mình.
     Tối ngày hôm đó, hai chúng tôi phải ngủ lại nửa đêm giữa rừng. Người chiến sĩ mắc võng cho tôi nằm rồi ôm súng ngồi gác bên cạnh. Nhưng làm sao mà ngủ được? Tôi đến ngồi bên anh, trên một phiến đá. Rừng đêm tối mò và đầy hăm dọa.
-    Tôi xin lỗi đồng chí về cái việc hôm qua… – tôi nói khẽ bên tai anh – Đến mai, thế nào tôi cũng phải vẽ đồng chí. Một bức, thật đẹp!
-   Giá có một chỗ nào có thể chụp ảnh thì tôi không dám phiền đồng chí nhiều vậy đâu! – Anh nói chậm rãi – ác một cái, ở trong rừng, chẳng có hiệu ảnh.
     Ngừng một hồi rất lâu, anh lại mới tiếp:
-   Vừa rồi tôi gặp cậu tân binh ở ngoài mới bổ sung vào. Mới biết, không hiểu sao gia đình tôi ngoài bắc lại nghe tin tôi hy sinh. Thư từ ở đây gửi về ngoài ấy mất một năm. Mấy năm nay tôi định gửi về nhà một cái ảnh theo cái điều ao ước của mẹ tôi từ lâu, mà không chụp ở đâu được!
     Tôi ngắt lời anh:
-  Vậy thì tôi sẽ vẽ đồng chí một bức thật giống. Tôi sẽ trực tiếp mang theo ra. Đồng chí hãy viết một lá thư nữa và ghi địa chỉ gia đình cho tôi. Tôi sẽ trực tiếp mang thư và “ảnh” đồng chí tới tận nhà…
      Tôi sốt sắng bàn với anh kiếm củi nhen lửa để tôi vẽ ngay, nhưng anh ngăn lại.
-   Đừng đốt lửa! – Anh nói.
      Sáng sớm hôm sau, anh đưa tôi đến trạm mới.
     Tôi hoàn thành bức chân dung người chiến sĩ “thồ” tranh chỉ trong khoảng nửa tiếng đồng hồ. Tôi không thể có hoàn cảnh vẽ chậm chạp, rềnh ràng được. Bởi vì, ngay sau đó tôi lại phải theo đoàn lên đường đi chặng tiếp theo, và người chiến sĩ cũng đang có nhiệm vụ mang đồ đạc cho một đồng chí cán bộ cao cấp trong một đoàn khách đi vào trạm của anh. Cả hai chúng tôi đều vội, đến nỗi anh cũng chẳng kịp viết thư mà chỉ kịp ghi cho tôi cái địa chỉ. Rồi hai chúng tôi chia tay nhau.

     Thành công của nghệ thuật có đôi lúc là một cái gì rất cầu ơ, điều này có lẽ chỉ có anh em chúng tôi trong nghề với nhau mới thấu hiểu hết được. Chắc các bạn sẽ lấy làm lạ – cũng có thể chẳng lấy làm lạ – nếu được biết rằng cái “bức ảnh truyền thần” người chiến sĩ mà tôi đã vẽ vội vẽ vàng trong cái buổi mờ sáng ở trong rừng đó, về sau, hoàn toàn ngoài cả dự định của tôi, đã nghiễm nhiên trở thành một tác phẩm hội họa nổi tiếng của tôi, không những ở trong nước, mà cả ở nước ngoài nữa. Thật thế, chính bản thân tôi cũng không thể nào lường hết được quy luật đào thải của thời gian. Một điều thật đáng buồn là tất cả số tranh và ký họa mà tôi đã tốn biết bao công phu mang từ trong chiến trường ra chuyến đó, chẳng có một bức nào còn lại được, mặc dầu một số lớn đã được bày triển lãm, đã được in rải rác trên báo. Trong khi đó, “bức ảnh truyền thần của người thợ vẽ” thì lại còn lại mãi mãi, như một cái “đinh” của sự nghiệp sáng tác của tôi, trong những năm chiến tranh.
     Đáng lý ra tôi không bao giờ đến cắt tóc ở cái hiệu ấy. Nhà tôi cũng như cơ quan tôi làm việc đều ở phía cuối thành phố. Vậy mà cái hiệu cắt tóc chẳng có gì đáng phải chú ý đó ở tận đầu phía tây bắc thành phố, lại nằm trên một phố nhỏ khuất nẻo có lẽ là lần đầu tiên tôi đặt chân đến. Sáng hôm đó, một buổi sáng mùa hè, tôi có công việc đến một cơ quan, nhưng người tôi định tìm gặp chẳng may lại đi vắng. Tôi dắt xe ra, lượn vòng vèo quanh mấy khu phố cổ phía bắc để ngắm nhìn những mái ngói, những mảng tường. Tôi lang thang với con mắt nghề nghiệp khoảng vài tiếng đồng hồ. Buổi sáng đó, nếu trong túi tôi có một mẩu bút chì và cuốn sổ ký họa thì sau đó không bao giờ tôi nảy ra cái ý định đi cắt tóc. Tôi bước vào một cửa hiệu có hai ghế nhưng cả hai đều đã có khách. Tôi liền quay ra, dắt xe men theo một bức tường rất dài. Cuối bức tường, có một cái quán bán nước mở ngay bên một cái ngõ, một đám đông thanh niên đang ngồi nhẩn nha uống nước chè chén và hút thuốc. Bên cạnh quán nước lại thấy một cái hiệu cắt tóc khác. Chẳng có gì đáng có thể được gọi là “cửa hiệu” cả: kề sát bên mái là quán nước, một mảnh vải ni-lông tăng bộ đội che lấy một khoảng đất bằng bốn chiếc chiếu nằm hơi thụt sâu xuống vương vãi đầy những lọn tóc. Một chiếc ghế mộc cũ kỹ, có lẽ do người thợ cắt tóc tự đóng lấy, trên thành ghế vắt một chiếc khăn choàng trắng khá sạch sẽ. Quán cắt tóc vắng thợ. Chỉ thấy một bà cụ già đang cầm chổi quét những lọn tóc vun vào một góc. Tôi dựng xe đạp vào bức tường phía ngoài vỉa hè, bước vào. Cái quán cắt tóc thoạt trông vẻ ngoài chẳng có gì hấp dẫn nhưng điều khiến tôi có cảm tình ngay là trên bức tường, phía trên tấm gương soi, có dán bức tranh nổi tiếng của tôi. Đó chính là bức ký họa chân dung người chiến sĩ đã “thồ” tranh cho tôi tám năm về trước.
     Lúc bà cụ già ngẩng lên, tôi mới biết đó là một người lòa. Nghe tiếng chân của tôi bước vào, bà cụ cầm chiếc chổi ngẩng lên, từ từ hướng cặp mắt trắng đục về phía tôi. Tôi nhận thấy một nét rạng rỡ, hoan hỉ đang từ từ lan ra trên khuôn mặt bà:
-  Mời ông ngồi chơi một lát. Cháu nó uống chén nước xong là bắt tay làm cho ông ngay! Thưa, ông chỉ đợi cho mấy phút thôi ạ!
     Tôi đáp “vâng” và đến ngồi vào chiếc ghế. Bà cụ lại tiếp tục quét, nhưng có lẽ vẫn còn áy náy sợ khách bỏ đi mất nên lại ngẩng lên:
-   Có báo mới cháu nó để trên bàn. Ông coi đi!
     Tôi giơ tay cầm tờ báo trên hàng chai lọ và giở ngay trang tư có đăng nhiều tin tức thế giới.
     Tờ báo hàng ngày có một số tin mới. Tôi không phải loại người say mê môn bóng đá đến mức quá khích như một số người khác, nhưng cái bài tường thuật trận đấu bóng trên sân cỏ ở một thủ đô bên châu Mỹ La-tinh khéo quá, đã hấp dẫn tôi đến mức người thợ cắt tóc trở về lúc nào tôi không biết, tôi cứ để mặc cho người thợ cắt tóc quấn vào ngực chiếc khăn choàng, rồi dùng lược chải qua mái tóc, rồi bấm thử tông-đơ tanh tách bên tai, rồi hình như anh ta kêu tôi để tóc tốt quá lâu không chịu cắt. Cho đến lúc anh ta dùng hai bàn tay xoay cái mặt tôi cho thẳng và hất cái mặt tôi ngẩng cao lên hơn một chút, thì tôi mới chịu buông tờ báo.
- Bác cắt như cũ chứ?
- Vâng.
     Trước mặt tôi, kề ngay sát, lúc bấy giờ là một anh thanh niên trạc ngoài ba mươi. Anh ta có một khuôn mặt mà hình như tôi đã từng gặp, nước da mai mái của người đã từng ở rừng. Một chiếc sơ mi bằng vải phin trắng ngả mầu cháo lòng và chiếc quần bộ đội cũ vá một vài miếng đang bốc lên một thứ mùi sin sỉn, mùi quần áo của những người thợ cắt tóc.
     Tôi có thói quen không sửa được, thích trò chuyện:
- Anh làm ở tận trong cái ngõ này chắc ít khách?
- Cũng đủ lắm. Phần nhiều khách quen. Nhưng hồi này cái nghề chúng tôi làm ăn cũng khó khăn.
     Tôi cãi:
- Khó khăn là những thứ nghề khác, những công việc khác, ví như những người mua gian bán lận, chứ như cái nghề của anh, thời nào mà sợi tóc chẳng mọc dài ra, người ta bao giờ mà chẳng phải cắt tóc?
- Nhưng bác tính, khi người ta làm ăn dư dả, có đồng tiền, thì mới năng trang điểm, tô vẽ cái răng, cái tóc chứ?
- Vậy thì tôi chịu anh. Anh làm nghề này lâu chưa?
- Đã gần mười lăm năm. Từ lúc tôi còn đi học và chưa đi bộ đội kia.
     Tôi có tính hay lãng quên những việc không đáng quên một chút nào, nhưng ông trời vốn dĩ phú bẩm cho tôi một trí nhớ đôi lúc chớp lóe lên, có thể nhìn thấy rõ một ngày trong đời của tôi hồi sáu bảy buổi, như nhìn vào một bức ảnh cũ. Thế là tôi đã nhận ra được người thanh niên làm nghề cắt tóc đó. Đúng, chính là người chiến sĩ đã “thồ” tranh cho tôi, tám năm về trước. Ôi chao, lúc ấy, tôi chỉ muốn có một cái mặt nạ, hoặc bé xíu lại như một hạt đậu, trên cái ghế cắt tóc. Tôi biết nói thế nào để các bạn có thể cảm thụ được cái cảm giác phạm tội của tôi lúc ấy nhỉ? Có bao giờ bạn dọn nhà không? Khi người ta phải thay đổi chỗ ở, có những thứ đồ đạc tưởng mất biến từ lâu, lục lọi, tìm kiếm khắp vẫn không thấy, thì tự nhiên lòi mặt ra tận trong góc tủ, dưới gầm giường. Có những thứ đồ vật vô nghĩa. Có những thứ nhắc tới một chút kỷ niệm đẹp đẽ. Có những thứ gợi lên một câu chuyện chẳng hay ho gì, tưởng đã quên hẳn cái chuyện đó thì bây giờ cái đồ vật lại từ xó xỉnh, bụi bặm, từ trong xó tối từ từ bò ra, cái vật vô tri lại thủ thỉ nói chuyện với anh, khiển trách anh, lên án anh.

     Tại sao ngày ấy tôi đã không đưa “tấm ảnh” đến cho gia đình anh? Tại sao tôi không giữ lời hứa? Mà tôi vẫn còn nhớ, tôi đã hứa với anh và cả với tôi nữa, đinh ninh và hùng hồn lắm, và cũng thực tâm lắm chứ? Trong cái đêm ấy, khi tôi ngồi bên anh trên phiến đá giữa khu rừng bên nước bạn, giá có phải chạy qua làn đạn của địch, hay băng qua ngọn lửa, thì tôi cũng quyết định sẽ vượt qua, để đưa tấm hình về trao tận tay những người trong gia đình anh, để đền đáp chút ít tấm lòng độ lượng quá lớn lao nhưng lặng lẽ mà anh đã đối xử với tôi. Lúc ấy, mắt tôi đã rưng rưng khi nghe kể chuyện ở ngoài này, bà mẹ anh đang nhầm tưởng anh đã hy sinh. Và buổi sáng hôm sau, lúc chia tay nhau, tôi lại còn hứa đi hứa lại, để cho anh trở về thật yên tâm và tôi lại còn nhớ, tôi đã nắm tay nhiều lần không nỡ rời, tôi ôm anh, rồi thật là giả dối chưa, tôi lại còn hôn anh nữa, trước khi lên đường đi chặng tiếp. Từ bữa đó, tôi đi bộ ròng rã gần ba tháng thì ra đến Hà Nội. Ngày đó, khi đặt chân về đến Hà Nội, tôi vẫn còn mang ý định đến thăm nhà anh ngay, và mang theo bức vẽ đến. Nhưng chỉ sau một tuần lễ, tôi đã thiết lập được với cái xã hội hậu phương chung quanh những mối quan hệ mới, cái không khí chiến trường tự nhiên nhạt nhòa đi, cái mối nhiệt tâm của lúc còn ở trong đó vơi bớt đi – không, đừng đổ lỗi cho hoàn cảnh! Tôi phải nhận rằng, chỉ sau một tuần lễ, được bè bạn sành sỏi nhất trong nghề đánh giá bức ký họa thật cao, tôi liền lờ quên cái người mẹ đang ôm ấp mối đau khổ vì ngộ nhận con trai đã hy sinh đang ở ngay trong thành phố, tôi liền đóng gói bức ký họa chung với những bức tranh đem đi dự triển lãm Việt Nam ở nước ngoài. ỷ vào ngày giờ đi quá cấp bách, tôi cũng không kịp nghĩ đến việc tới thăm bà mẹ anh nữa!
     Có những lúc con người ta không còn chỗ trú nấp. Đó là cái lúc ngồi ngửa mặt lên chiếc ghế, tôi nhận ra anh một cách chắc chắn, biết không thể nào nhầm được nữa! Tôi chỉ còn mong anh không nhận ra tôi. Không, nhất định anh phải nhận ra chứ, khuôn mặt tôi gần mười năm nay chụp ảnh thấy ít thay đổi lắm. Mà cái mặt mình chỉ cách mặt anh có mấy tấc. Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây?
" Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ: “Chân dung chiến sĩ giải phóng”. Thật là danh tiếng quá!"
" Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức “chân dung chiến sĩ giải phóng” đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm!"
“A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả… Có quyền lừa dối hả? Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!”
     Giá lúc đó, sau khi cắt tóc xong, anh bảo tôi hãy ngồi lại để hỏi cái món nợ tám năm về trước, thì có thể sau đó tôi không trở lại cái quán cắt tóc ấy nữa, cũng nên. Thế nhưng anh vẫn làm như không hề bao giờ quen biết tôi. Khi tôi ra về, anh chào tôi một cách thân mật, nhã nhặn sau khi nhận tiền cắt tóc.
     Đã gần một tháng rưỡi, tóc tôi dài quá, mà vẫn chưa cắt. ít hôm tôi lại đạp xe trở lại ngôi quán đó, nhưng vừa chớm đến nơi thì tôi đã cắm cổ đạp thật nhanh, cố giấu mặt đi. Mỗi lần đạp vụt qua khỏi cái quán cắt tóc ấy, tôi phóng hẳn sang một đoạn phố khác, cứ sợ đôi mắt người thợ cắt tóc nhìn theo, nhưng trong bụng lại cảm thấy thất vọng. Tôi lại mon men đạp trở lại, y như một kẻ đã trở nên lẩn thẩn, tôi đến ngồi ở một cái quán nước trước cổng một cái bệnh viện bên kia đường, cách cái quán cắt tóc một quãng. ở đấy, khách uống nước bao giờ cũng đông. Tôi ngồi lẫn vào. Tôi gọi một chén nước, vừa uống vừa nhìn sang. Lần nào tôi cũng trông thấy anh, nhưng có lần thấy bà mẹ anh, có lần không.
     Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người đàn bà hỏi tôi:
- Bác đến cắt tóc?
- Vâng.
- Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến.
     Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
     Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong B. Cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy nói với chị thế?
- Vâng.
- Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ…
- Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?
- Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa?
- Thưa đã lâu. Đã chín năm nay.
- Vì sao?
- Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài…
- Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không?
- Từ 69.
- Từ tháng mấy?
- Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.
     Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa?
     Mấy lần tôi đã bước vào một cửa hiệu cắt tóc sang trọng ngay trong phố nhà tôi mà trước đây tôi vẫn thường cắt, nhưng lại lấy cớ này cớ nọ, quay trở ra. Mấy lần tôi đã định “tẩu thoát”. Nhưng chính tôi lại bắt giữ tôi lại. Tôi lại kiên nhẫn tự thuyết phục mình một cách xử trí êm nhất: đừng bao giờ đặt chân đến trước mặt người thợ cắt tóc và bà mẹ anh ta nữa. Người ta đã dời cái quán đến một phố khác. Lần trước, anh ta đã nhận ra cái mặt của anh rồi. Thì lúc này là cơ hội “tẩu thoát” êm nhất. Cái người săn đuổi mình đã rẽ sang lối khác thì mình lại cũng rẽ vào đấy làm gì? Nhưng anh có đuổi theo tôi đâu? Đấy là tôi muốn tự nguyện đến nạp mình, cho lương tâm.
     Tôi lại tiếp tục dụ dỗ: sau hàng chục năm ở bộ đội, anh ấy lại trở về làm nghề cũ. Chắc hoàn cảnh kinh tế của gia đình cũng khó khăn. Tôi nghĩ đến việc hay là vay mượn gom góp một số tiền lớn, cái số tiền mà tôi đã thu được nhờ bức ký họa chân dung kia, bí mật gửi cho anh. Vẫn không được! Tôi vẫn không cho phép mình lấy đồng tiền để thay cái mặt mình.
     Tôi lại đạp xe đến gần cái nơi anh mới dời đến. Chỗ đó là đầu một cái ngõ ăn ra một đường phố nhỉnh hơn phố cũ. Chỗ làm mới cũng xoàng xĩnh như chỗ cũ, chỉ hơn trước có một bức mành che. Thỉnh thoảng tôi lại đạp xe qua, đá cái mặt về phía bức mành, nghe tiếng tông đơ rỉa tanh tách, và liếc nhìn cái dáng người thanh niên đang đứng cắt tóc phía sau. Rồi lại phóng xe vút qua đi.
- Cái anh thợ cắt tóc ở đây dời chỗ làm rồi, phải không bà? – Tôi vờ hỏi bà chủ quán nước ở cái ngõ cũ trong khi ngồi chen giữa một đám đông khách uống nước, hút thuốc và kháo chuyện vặt.
- Anh ấy dời phố ra ngoài. Cách mấy ngõ thôi. Chắc ông là khách quen?
- Thưa vâng.
- Cái thằng T. Cắt tóc, số nó nhờ được con vợ! – Một người khách bình phẩm.
- Thì còn phải nói! – bà chủ quán cũng nói xen vào – ngày xưa khi anh ấy còn ở bộ đội trong B, tuy chỉ là chỗ láng giềng thôi, nhưng cô ấy chăm sóc bà cụ lúc ốm đau chẳng khác con cái trong nhà. Về sau anh ấy trở về cũng vì cảm tấm lòng mà lấy.
- Ông trời sinh ra con người cũng lạ. Có người tốt vậy, có đứa đểu cáng lật lọng hết chỗ nói.
     Cái đầu tóc tôi đã tốt quá, ngứa không chịu được! Mà tại sao cứ muốn giở chứng, cứ tự đem mình ra mà hành vậy? Tại sao lại cứ muốn tự dẫn xác đến cái quán ấy cơ chứ? Ngay buổi sáng đó, tôi đạp xe trở về dưới phố nhà tôi, lập tức đến cắt tóc ở cái hiệu quen đã mấy năm nay. Thật là thoải mái, dễ chịu. Trời lại nắng nhạt, cũng thật dễ chịu. Cái hiệu quen sạch sẽ, thơm phức. Bác thợ kêu ầm lên chắc hồi này nhà họa sĩ bận lắm, bận lắm, mấy lần đến rồi lại không có thì giờ cắt, để cho cái đầu trở thành một khóm rừng! Bác thợ quen lại còn khuyên tôi nên làm việc có điều độ. Tôi lại vui vẻ (đấu hót) với bác như mọi lần trước kia. Thật là vui. Phải nói đây là người thợ cắt tóc giỏi nhất thành phố, làm rất cẩn thận, lại rất quý tôi. Được cắt tóc cho một nhà ông họa sĩ! Bác cẩn thận, cân nhắc từng nhát dao, nhát kéo. Bác nâng niu cái đầu, cái mặt tôi. Những ngón tay sờ đụng vào cái đầu, cái mặt tôi như đang sờ đụng vào một vật rất quý.
     Thế nhưng tôi cũng trở lại cắt ở đấy chỉ có một lần đó. Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Tôi quyết định phải trở lại đấy vào buổi sáng, và đến thật sớm, lúc chỉ có tôi và anh. Để cho anh có hoàn cảnh thuận tiện chỉ vào cái mặt tôi mà hỏi: “Bác là cái nhà ông họa sĩ ngày xưa đấy ư? Bác đã làm cho bà mẹ tôi khóc hết nước mắt để trở thành mù lòa như thế kia? Được rồi, vậy thì xin mời ngồi vào đây!”
      Bên trong bức mành vẫn chỉ thấy bày chừng ấy thứ đồ đạc: chiếc ghế mộc, chiếc khăn choàng sạch sẽ vắt trên thành ghế, chiếc bàn con để bánh xà phòng thơm và mấy thứ chai lọ, tấm gương soi mặt khách, phía trên tấm gương vẫn dán bức chân dung người thợ cắt tóc tám năm trước. Anh thợ của tôi ngồi quay lưng ra, một chân vắt lên thành ghế, đang ăn một vắt xôi gói trong cái lá bàng. Bà mẹ anh cũng có mặt, ngồi xổm cầm chiếc vồ đập những hòn gạch vỡ nèn chặt xuống nền đất. Bà cụ lại ngước mắt lên nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:
- Thưa ông đến cắt tóc?
- Vâng ạ!
     Tôi có cảm giác hồi hộp của một anh bộ đội giữa trận đánh đồn vừa vượt qua lớp lớp hàng rào để bám được vào cái đột phá khẩu. Lúc ban nãy, khi đạp xe vừa chớm đến quãng đường phố ngang với bức mành, chỉ chút xíu nữa là tôi đã nhấn mạnh chân vào bàn đạp cho bánh xe lăn thật nhanh như mọi lần, “Thưa ông đến cắt tóc?”, “Vâng ạ!” một lần nữa, nếu tôi gieo thêm một chút xíu yếu đuối trên cái mặt cân tiểu ly vô hình, tôi sẽ không đáp “Vâng ạ!” mà có thể trả lời: “Không ạ” rồi phóng xe đi thẳng như mọi lần.
     Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại. Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề.
     Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên.
- Mời bác ngồi!
     Tôi cố trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra điện.
- Bác vẫn cắt như cũ?
- Vâng.
     Bàn tay người thợ ấn cái gáy tôi xuống. Tôi trông thấy hai ống quần quân phục đã cũ kỹ và đôi bàn chân xỏ trong dép cao su. Bà mẹ anh vẫn ngồi bên cạnh cái ghế cắt tóc, bàn tay dăn deo vừa sờ soạng trên mặt đất, vừa cầm chiếc vồ nện lên những viên gạch chan chát, nhát trúng nhát trật.
     Từng mảng tóc trên đầu tôi rớt xuống. Tôi có cảm giác tôi đang ngồi cho người thợ giải phẫu não, mà không đánh thuốc mê.
     Rồi người thợ cắt tóc, một tay nâng ngửa cái mặt tôi lên, một tay cầm lấy con dao nhỏ sáng loáng. Tôi khẽ liếc mắt thấy lưỡi dao sắc lẹm, vậy mà anh vẫn đem mài đi mài lại trên một tấm da. Tôi khắc khoải nằm ngửa mặt chờ. Tôi khẽ thử động đậy cái gáy, nó như đã bị chốt vào miếng gỗ lõm có lót da. Ngay trước mặt tôi vẫn là cái bộ mặt thật của tôi vừa được lột khỏi ra cái mặt nạ hàng ngày, đang phản chiếu trong tấm gương.
“Hàng ngày anh vẫn nói đùa một cách độc đáo với bạn rằng: tạo hóa nặn ra muôn loài, mỗi loài bằng một thứ bột nhão riêng khác nhau. Xong rồi mỗi thứ thừa một tý, đem gộp chung tất cả lại, để nặn ra anh?”
“Có lẽ thật thế, trong con người tôi đang sống lẫn lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ?”
“Bây giờ trước mặt tôi, anh nghĩ thế nào về cái luật công bằng ở đời của anh: cho thế nào thì nhận thế nấy?”
“Tôi xin nhận đã gây nên đau khổ cho bà mẹ anh. Tôi đã lừa dối anh. Tôi đã thu thêm được tiền của và tiếng tăm trên sự đau đớn của anh. Bây giờ anh cứ trừng phạt tôi. Anh xử tôi thế nào cũng được!”
“Không bao giờ! Nếu tôi xử phạt anh, nếu tôi thực hiện cái quan niệm về luật công bằng ở đời của anh, thì cái hôm đó, tám năm trước đây, khi quay lại đón anh giữa suối, tôi đã xốc ngược anh lên rồi vứt tõm vào khúc suối giữa bãi đá tai mèo rồi!”
“Lần này anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?”
“Phải”.
“Anh cũng không trách mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?”
“Không! Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội”.
“Tôi vẫn thường gặp mặt anh ở ngoài đường luôn luôn đấy chứ! Một lần tôi đứng xem anh ký họa khu phố cổ. Một lần tôi đến xem phòng trưng bày tranh của anh. Một lần khác, tôi đi theo mấy người bạn làm xưởng vô tuyến truyền hình đến quay chỗ xưởng làm việc và gian phòng riêng của anh. Anh không nhận ra được tôi đấy mà thôi!"
“Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!”
“Không”.
“Tôi có phải cút khỏi đây không?”
“Không. Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!”
     Phải, giá thử lần thứ nhất tôi đến, hoặc lần thứ hai trở lại, và các lần sau nữa, mà người thợ ấy nổi giận đuổi tôi ra khỏi ngôi quán, thì chắc chắn tôi không đủ thì giờ nhìn kỹ cái mặt mình đến như thế. Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh sơn mài tất cả công sức và sự suy nghĩ, và trong suốt thời gian ấy, một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa hề bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEg64A_RX7JuzP2-PBO3ri3MFKhsn35UUm9f1ut0Tgk4cTtTXKWF2b-2zr0kcxGG48aNDzT6JLYMIPPE_iUK7A8-h9YCoSpBcrnhR2vvGiTt5lC0B7CqQJ17vmUqDKrC1HlxOWrhl33d73A/s400/27-Buuchi.jpg       Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt mầu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà phòng. Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm.



---------------------------------------------------------

Từ trên xuống, các bức tranh chân dung dùng để minh họa - theo thứ tự-thuộc các tác giả:
-  Danh họa Picasso
-  Họa sĩ Trần Ngọc Bảy
-  Họa sĩ Bửu Chỉ

Thứ Ba, 17 tháng 12, 2013

Nồi lẩu

                                                                                                           Truyện ngắn
                                                                                                                                    Thiết Ngưng (TQ)


      Hai người tay trong tay đứng bên cửa sổ ngắm tuyết. Tuyết đã rơi từ sáng sớm, cây lựu trước sân giống như được khoác thêm chiếc áo len trắng vậy, trông vô cùng ấm áp.
      Cây lựu đó tuy chỉ cao hơn đầu người tí chút nhưng không vì thế mà ít quả. Thu rồi đếm sơ sơ cũng có hơn bốn chục trái, cành nào cành nấy trĩu cong sát đất. Thời tiết khi đó vẫn còn chưa lạnh. Bà kéo ông ra trước cây lựu, giọng điệu vừa có chút khâm phục vừa mang vẻ cảm khái: Trông nó mệt mỏi quá!
      Cứ như cây lựu đó là một bà bầu trong nhà họ vậy.
      Ông bảo: “Tôi không nghĩ cây biết mệt mỏi!”.
      Bà cãi: “Tôi bảo nó mệt là nó mệt!”.
      Ông cười dòm dòm bà: “Bà này!”.
      Hôm nay đứng trước cửa sổ, bà lại bảo ông, cây lựu trong tuyết khoác chiếc áo len trắng thật ấm áp.
      Ông bảo: “Sao tôi không thấy vậy?”.
      Bà cãi: “Tôi lại cứ thấy vậy đấy!”.
      Ông cố ý làm như đang tranh luận: “Thân cây phủ đầy tuyết thì sao mà ấm áp được chứ?”.
      Bà gấp gáp lắc nhẹ tay ông: “Tôi bảo ấm áp là ấm áp mà!”.
      Ông nói vẻ hối lỗi: “Được rồi, được rồi! Bà bảo ấm áp tức là ấm áp!”.
      Bà cười, biết là ông sẽ phải nói như thế, và cũng vì biết ông sẽ đáp lại như thế nên trong lòng bà cảm thấy vô cùng ấm áp.
      Ông tám mươi bảy.
      Bà tám mươi sáu.
      Ông là chồng của bà.
      Bà là vợ của ông.
     Từ khi lấy nhau cho đến nay ông đều nhất nhất chiều theo tính nết của bà. Ông để bà quản lý gia đình, nhường nhịn bà mỗi khi bà giận dỗi, để bà quyết định phong cách ăn mặc cho mình, để bà lau chùi vài thứ đồ đồng, đồ bạc trong nhà gồm vẻn vẹn một đôi bát bạc, một đôi đũa bạc và một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ được dùng mỗi dịp tết đến xuân về.
“Tuyết rơi đẹp thế này, chúng ta phải ăn lẩu mới được!”. Bà rời khỏi cửa sổ rồi đề nghị.
“Thế thì ăn thôi!”. Ông nắm tay bà hưởng ứng.
      Hai người bèn ngồi xuống chiếc ghế sofa hai chỗ cạnh cửa sổ đợi cô Điền đến.
     Cô Điền là người giúp việc theo giờ của gia đình, mỗi tuần đến hai lần để quét dọn nhà cửa và mua thực phẩm. Hôm nay vừa khéo đúng ngày cô Điền sẽ đến làm việc. Tuyết vẫn rơi nhưng ông bà không hề lo cô giúp việc kia vì bị tuyết cản trở mà không đến. Họ biết cô hơn 20 năm rồi. Đó là một quả phụ thật thà và hoạt bát.
      Cô Điền đến rồi.
      Quả nhiên gió tuyết không làm khó được cô.
      Hai ông bà tranh nhau bảo với cô là hôm nay sẽ ăn lẩu.
      Cô Điền nói: “Cụ ông cụ bà hôm nay thật là cao hứng!”.
      Cô vẫn thường gọi hai người như thế.
      Bà bảo: “Cao hứng hay không cũng còn phải xem thời tiết!”.
      Cô Điền nói: “Thời tiết sao có thể quyết định tâm tình của con người được chứ? Cứ xem hai cụ đây, từ sáng sớm tinh mơ đã tay trong tay. Thật khiến cho lớp con cháu hậu bối chúng con chẳng biết giấu mặt vào đâu!”.
      Quen biết đã quá nhiều năm rồi nên cô Điền cố tình đùa một câu hơi vô phép.
      Hai ông bà kệ cho cô giúp việc nói cười vẫn ngồi im trên ghế, tay hai người cũng không vì thế mà rời nhau ra.
      Thực ra thì cô Điền sớm đã quen với cảnh hai ông bà già ngồi bên nhau tay không rời tay này rồi. Từ khi biết họ đến nay, đã mười mấy năm rồi họ dường như vẫn ngồi như vậy. Họ ngồi ở đó xem cô lau mặt bàn, lau sàn nhà, hút bụi cho bộ sofa và rèm cửa sổ, phân loại rau dưa thịt cá để cho vào tủ lạnh…Gặp ngày thời tiết tốt, họ có thể sẽ rủ cô cùng họ đi chợ hoặc đi siêu thị. Cụ ông sau một hồi đi tới đi lui sẽ đột nhiên dừng chân bảo với cụ bà: “Gãi gãi chút!”. Đó là vì cụ bị ngứa lưng. Cụ bà cho tới tận khi đó mới tạm rời tay cụ ông, sau đó luồn tay vào áo để giúp ông gãi ngứa. Cô Điền ở bên cạnh chỉ có cười mà thôi. Họ vốn chẳng coi cô như người ngoài nhưng cũng chẳng có ý định mời cô làm việc cả tuần hay mời người khác đến làm gối với cô. Cô biết họ thậm chí cũng chẳng mấy mong mỏi bốn người con và lũ cháu của họ vẫn định kỳ về chơi thăm hỏi. Đó dường như là một sự làm phiền. Làm phiền thói quen tay trong tay ngồi bên nhau không một chút miễn cưỡng và vĩnh viễn không bao giờ biết chán của họ. Mỗi lần lũ con cháu về, họ chỉ muốn mau mau đuổi cổ chúng đi, thái độ không khỏi khiến người ta cảm thấy đôi vợ chồng già này đang giấu giếm mọi người chuyện gì đó. Thật không biết là duyên phận từ đời nào kiếp nào nữa! Cô Điền thở dài, vừa cảm thấy sự cô độc thê lương của bản thân đồng thời lại bị không khí yên lành tràn ngập khắp căn phòng này truyền nhiễm.
      Ông giục cô Điền đi mua thịt cừu, bà thì bảo cô mang giấy ra ghi lại các thứ gia vị phụ liệu để khỏi quên. Cô Điền lấy từ trong bếp ra một tờ giấy đã được gấp vuông vắn trải ra bàn rồi nói: “Lần trước đi mua con đã ghi lại rồi. Con đọc để hai cụ nghe nhé, chẳng qua cũng chỉ có tào phớ, nước mắm tôm trong, hoa hẹ, tương ớt, dầu hoa tiêu, tỏi ngâm, rau cải bắp, rau thơm, bánh phở, đậu phụ đông…”. Cô Điền đọc xong, ông thủng thẳng bảo: “Cô quên không ghi dầu mè à?”. Bà chen vào: “Dầu mè ở nhà vẫn còn nửa lọ đấy!”. Ông lại bảo: “Còn tảo biển nữa. Lần trước đã quên rồi!”. Cô Điền vâng lời ghi thêm vào tờ giấy khoản tảo biển.
 Nhúng tảo biển là sáng kiến của ông. Sau khi ăn rồi bà cũng thích luôn.
Tảo biển quả là một món ngon.
      Cô Điền nghe dặn dò xong bèn vội vàng ra chợ, trước khi đi vẫn không quên từ trong bếp bê ra một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ nặng trịch đem đặt lên chiếc bàn ăn hình vuông trong căn phòng ăn kiêm luôn phòng khách của ông bà, cạnh đó lại để một hộp kem đánh răng và một miếng vải mềm nhỏ. Đó là một thói quen của bà. Cứ cách một khoảng thời gian bà lại phải lau chùi nồi lẩu. Lâu lâu không lau bà sẽ cảm thấy có lỗi với nó. Lần trước ăn lẩu xong bà vẫn còn chưa lau chùi. Cũng có đến non nửa năm rồi còn gì. Lần đó ông bà làm lẩu để chào đón cô cháu dâu mới chưa biết mặt.
Ông thấy bà định đi lau nồi thật bèn ngăn lại nói: “Hôm nay đừng lau nữa, cũng chỉ có hai ông bà già, Cứ nhất thiết phải cầu kỳ thế sao chứ?”.
Bà bảo: “Ờ! Nhất định phải như thế đấy! Hai người ăn cũng phải có cái nồi sáng choang mới được!”. Nói xong bèn rời ghế sofa đến ngồi bên bàn ăn cầm mảnh vải nhỏ lên, lại cầm tuýp thuốc đánh răng bóp vào đó một ít rồi bắt đầu công việc lau chùi quen thuộc.
      Ông cũng đi đến ngồi xuống phía đối diện xem bà làm việc. Cái nồi đó quả thật là rất lờ nhờ, mà cũng có thể là mắt ông lờ nhờ. Ông nheo mắt nhìn, cái nồi lẩu trước mắt ông không những không bóng láng mà ngay cả đường nét cái miệng nồi cũng nhập nhèm chẳng rõ. Cả ông và bà đều bị bệnh đục thủy tinh thể. Ông bị hai mắt còn bà bị mắt bên phải. Bác sĩ nói đây là kiểu đục vỏ thủy tinh thể, chờ đến giai đoạn đục chín thì có thể tiến hành phẫu thuật. Ông đã hẹn với bà rồi. Đến lúc đó cả hai vợ chồng sẽ cùng nhập viện.
Bà vừa lau cái nắp nồi vừa nói: “Ông xem! Chỗ lau xong khác hẳn với chỗ chưa lau đấy!”.
Ông cảm nhận được sự hứng khởi của bà bèn phụ họa theo: “Đúng là khác hẳn nhỉ! Thế mới gọi là nồi lẩu chứ!”.
      Hai ông bà đều thích ăn lẩu. Cũng nhờ ăn lẩu mà ông bà quen biết nhau. Hồi đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, hai người vẫn còn đang tuổi thanh niên, cuối tuần đi cùng với đồng nghiệp của mình đến DongLaiShun [1] ăn bữa lẩu. Những năm đó phổ biến kiểu “Lẩu cộng hòa”, thanh niên nam nữ chưa có gia đình rất yêu thích. Cái gọi là “cộng hòa” tức là một số thực khách không quen biết cùng ngồi ăn chung một nồi lẩu. Nước dùng là của chung. Giữa nồi có dải ngăn cách tượng trưng, giống như ngày nay người ta làm các vách ngăn cách trong văn phòng làm việc vậy. Lúc ăn mỗi người sẽ có một ô trong nồi để tự nhúng thịt cừu và các đồ ăn khác mà mình đã gọi. Tiền nồi lẩu và nước dùng thì bổ theo đầu người ăn nên rất tiết kiệm. Con người và môi trường ngày đó đều rất thuần khiết, không có SARS mà cũng chẳng có H7N9. Những con người xa lạ ngồi chung bàn, ăn chung nồi cũng chẳng e ngại tị hiềm gì, Cảnh mọi người vây quanh một chiếc nồi lớn đó quả có cái không khí bốn bể đều là anh em.
      Hôm đó ông ngồi cạnh bà, sau khi ăn hết phần đồ ăn mình đã gọi bèn thò đũa sang gắp đồ ăn trong đĩa của bà. Hai đĩa vốn cũng để cạnh nhau mà. Trông ông khi đó không có vẻ là cố ý nên bà cũng ngại không muốn nói. Có điều khi thấy ông cứ liên tục gắp liền mấy gắp, anh bạn đi cùng bà bèn dùng đũa của mình gõ gõ lên thành nồi lẩu bảo: “Này này đồng chí! Cái nồi này là dùng chung nhưng đĩa thịt đó là của cá nhân người ta đấy!”.
      Mọi người trong bàn cười ồ lên.
      Lúc đó ông mới như sực tỉnh.
      Vậy nhưng bà lại vì thế mà có cảm tình với ông, cũng giống như kiểu cảm tình mà ông dành cho bà vậy. Sau này ông bảo, hôm đó ông vừa ngồi xuống cạnh bà tim liền đập loạn lên. Bà chất vấn, có phải ông cố tình gắp đồ ăn trong đĩa của bà để gây sự chú ý không? Ông thật thà đáp, lúc đó ông chẳng nghĩ được nhiều như thế, mà cũng chẳng biết bản thân đang làm gì nữa. Thế rồi ông bà bắt đầu hẹn hò. Bà thì biết được ông là kỹ sư đường sắt – chả trách trông hơi ngây ngô. Ông thì biết bà là người thuyết minh trong một viện bảo tàng – chả trách mà khéo ăn khéo nói. Rồi hai người trở thành vợ chồng. Trong số đồ hồi môn của bà, ngoài một đôi bát bạc, một đôi đũa bạc ra, còn có cả một cái nồi lẩu bằng đồng đỏ.
      Chiếc nồi đồng đó được truyền lại từ đời ông ngoại của bà. Nhà ông ngoại vốn là nghệ nhân làm nồi lẩu. Những nồi lẩu được gia công bằng tay đó chuyên để cung cấp cho hoàng cung. Chiếc nồi đồng đó của bà, đồng thì là loại đổng đỏ thượng đẳng, láng bóng nhưng không chói mắt. Vung cũng như mặt ngoài của nồi đều trang trí bình thường, chỉ có men theo cái cửa lò hình chữ Nhân có chạm khắc những cụm mây bằng đồng thau. Mỗi khi rỗi rãi bà lại mang chiếc nồi ra lau chùi, cắt đoạn tay áo cũ bà đã từng mặc, nặn một ít kem đánh răng hoặc phấn rôm vào mà lau. Bà là người thích sạch sẽ, có thể dùng bì lợn để đánh cho cái mặt kiềng đúc bằng sắt trên miệng bếp than tổ ong trở thành một miếng gương soi. Khi tinh thần của bà chuyên chú vào việc lau chùi nồi lẩu, không khí trong nhà chẳng hiểu sao đột nhiên trở nên rất sinh động, cái sự thèm ăn của ông cũng bị khơi dậy, cứ như sắp sửa được chén một bữa lẩu tại Donglaishun vậy.
       Bà vốn đã từng làm lẩu cho ông ăn. Không có thịt. Chỉ có cải bắp và tép khô chấm với xì dầu. Sau khi ông bà kết hôn chính là thời điểm nghèo túng thực phẩm, thiếu thịt thiếu mỡ, ngay cả các loại thực phẩm phụ cũng phải mua bằng tem phiếu. Các gia đình bình thường rất hiếm khi sửa soạn được một nồi lẩu nhúng thịt – đi đâu mà mua thịt cơ chứ? Trong vòng tám năm, ông bà sinh liền 4 người con, quanh năm suốt tháng đều phải tính toán chi li, vá gấu giật vai. Tuy nhiên ông lại rất thích món lẩu tép khô rau cải hay rau cải tép khô đó của bà. Khi ông ngồi gần nồi lẩu nóng hổi đang sôi sùng sục đó, trái tim ông vụt trở nên ấm áp, có cảm giác như làn hơi nóng đang tỏa ra khắp nhà đó đang quyện chặt lấy ông, sưởi ấm cho ông. Trong nhà nhất định phải có nhiệt. Một nồi lẩu đang bốc khói hay một mặt kiềng bếp than tổ ong sáng choang, nơi có thể đặt trực tiếp bánh bao màn thầu lên đó để nướng đều khiến ông cảm thấy vô cùng quyến luyến. Chỉ có điều ông vốn vụng về trong đường ăn nói nên không thể lập tức đem thứ cảm giác đó ra biểu đạt cho bà hiểu. Ông chăm chú thả rau cải vào nồi. Bà thì nhanh tay nhanh mắt mò tép khô trong nồi nước lẩu đang sôi sùng sục cho ông. Cả thảy mới có một nhúm nhỏ tép khô. Cho vào nồi rồi chẳng còn nhìn thấy bóng dáng con nào nữa. Vậy mà bà với kỹ thuật siêu đẳng, hệt như đang mò kim đáy bể vậy, tay nắm chặt đũa tre nhăm nhăm gắp tới, lần nào lần nấy đều trúng đích. Mỗi khi bà với tay qua nồi lẩu để bỏ con tép chỉ bằng cái đầu sợi vào bát cho ông, ông lại đưa mắt nhìn sang bà qua làn hơi nước trắng xóa. Cùng lắm thì có thêm một câu: “Xem bà kìa!”.
      Nhiều lúc ông cũng muốn tìm kiếm chút tinh hoa trong nồi lẩu để gắp cho bà cho dù đó chỉ là vài con tép khô ít ỏi. Có điều tay chân ông vụng về, lần nào cũng gắp hụt. Chỉ có một lần, đôi đũa của ông bất ngờ kẹp được một miếng mồi lớn. Nhấc lên khỏi mặt nước nhìn xem thì hóa ra là một quả hồi màu đỏ sậm. Bà bảo ông mau thả nó lại nồi. Cả nồi nước lã đun sôi chỉ có nó để lấy hương thơm đấy. Ông không tranh đua với bà vụ bắt tép trong nồi lẩu nữa, hởi lòng hởi dạ ngồi ăn tép khô bắp cải, đột nhiên ngẩng đầu lên thốt một câu: “Mình đấy!”.
      Ông biết cả đời này ông không xa được bà, cũng giống như bà chưa bao giờ nghĩ sẽ rời xa ông vậy. Từ trước đến nay ông bà chỉ rời xa nhau có vài lần ít ỏi, bao gồm cả bốn lần bà nhập viện sinh con. Cũng phải kể đến lần ông bị đưa đến vùng rừng núi hẻo lánh lao động một năm trong cuộc đại cách mạng đó. Sau đó ông và một số đồng nghiệp trở về thành phố trước thời hạn và được biên vào một tổ nghiên cứu khoa học chủ chốt phục vụ cho công tác xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên của Bắc Kinh. Tuy ông còn lâu mới được là nhân vật chính trong công cuộc đó, cũng không thực sự có gì nổi trội, nhưng tất cả những điều đó đều chẳng ngăn được cậu con trai út của ông bà mỗi lần đi tàu hỏa lại lớn tiếng khoe khoang với chúng bạn: “Biết ai thiết kế tuyến đường sắt này không? Bố tớ đấy!”.
      Cô Điền đã về. Thịt cừu, rau cỏ nguyên liệu đều đầy đủ cả. cô chui vào bếp, cái gì cần rửa thì rửa, cái gì cần thái thì thái, thoáng một cái đã có khay to đĩa nhỏ để thành một khoảnh. Cô lần lượt bê những khay những đĩa đó ra cái bàn ăn hai cụ đang ngồi rồi xếp chúng vòng quanh cái nồi lầu giống như quần tinh chầu nguyệt vậy. Tiếp đó cô lại phải bê cái nồi lẩu đồng đỏ đó đi – bà cụ lau chùi khiến khắp nồi toàn dấu vết của kem đánh răng – cần phải dùng nước để rửa cho sạch. Có khác gì một người đi tắm đâu, không thể bước ra khỏi nhà tắm khi khắp người còn đầy bọt xà phòng chứ! Cô Điền để cái nồi dưới vòi nước trong bếp rồi xả nước để rửa. Cô phát hiện ra chiếc nồi chẳng sáng bóng như những lần trước bà cụ đã lau, thân nồi chỗ sáng chỗ xỉn còn phần chân thì gần như chẳng lau chùi gì đến, rìa mép còn nguyên những mảng xanh xám của gỉ đồng. Nghĩ đến căn bệnh về mắt của cụ bà, cô bất giác nhủ thầm: “Đúng là đã làm khó cho cụ rồi!”. Bên ngoài bà cụ hỏi với vào: “Nồi lau xong có sáng không?”, giống y đứa trẻ đang chờ đợi người lớn khen thưởng vậy. Cô Điền định bụng sẽ nói dối nên lớn tiếng đáp: “Sáng đến nỗi soi thấy cả bóng của con đây này! Cả cái bớt vàng sậm trên mặt con cũng nhìn thấy!”.
Ông bà nghe cô Điền nói vậy đều cười ha hả.
      Cái nồi lẩu nặng trịch đổ đầy nước trắng, sau khi thêm hành, gừng, hồi và một ít tôm nõn lại được cô Điền bê trở lại bàn ăn, chỉ cần đợi nước lục ục sôi lên là bữa lẩu nhúng chính thức được bắt đầu. Ông bà háo hức nhìn cái nồi trên bàn và những chén đĩa bày xung quanh nó. Cho dù trong mắt hai người, chiếc nồi đó tuyệt đối không thể gọi là hào quang tỏa ra tứ phía nhưng sự hình dung của cô Điền khiến ông bà tin rằng chiếc nồi vẫn sáng bóng giống với trước đây vài năm, thậm chí vài chục năm. Cô Điền thì đang theo thói quen nghề nghiệp nghiêng đầu ngó ngó cái cửa lò ở chân nồi lẩu. Than củi phải đỏ rừng rực chứ? Vừa nhìn vào,  “Thôi chết rồi!”. cô thảng thốt kêu lên một tiếng.
      Đúng là bận mải quá thành ra tai hại.
      Cô quên béng việc mua than củi!
      Cái sự quên này khiến ông bà hơi mất hứng, có điều hai người đều không hề định bàn lùi mà chuyển sang phương thức khác – dùng cái nồi lẩu điện mà cô cháu dâu mua tặng. Ông đã từng bảo: “Cái này mà cũng gọi là nồi lẩu sao?”. Cô Điền cũng không định động viên hai cụ dùng nồi lẩu điện. Cho dù là vì cái nồi đồng đỏ chỗ sáng chỗ tối mà cô đã bê ra bàn ăn, cô cũng phải đội tuyết đi một chuyến nữa để mua than. Cho dù là vì tâm tình của cụ ông và cụ bà. Cũng đáng!
      “Đợi con nhé! Một lát là về tới thôi!”. Cô Điền nói như đang dỗ dành hai đứa trẻ vậy, sau đó như một cơn gió phóng ra ngoài cửa.
      Ông bà nhẫn nại đợi cô Điền về cùng với than củi. Bà đi vào bếp pha dầu mè. Ông đi theo sau, lẩm bẩm vẫn câu đó: “Mình đấy!”.

http://genk2.vcmedia.vn/DlBlzccccccccccccE5CT3hqq3xN9o/Image/2013/11/ViDung/Cam_xuc_mua_dong_Ha_Noi_TXG.jpg-f6f99.jpg     Cả đời ông chưa nói với bà một câu nói du dương nào. Hình như cũng chưa từng viết qua thư tình. Tuy nhiên bà vẫn còn nhớ một chuyện xảy ra khi cô con gái lớn vừa tròn một tuổi rưỡi. Chủ nhật đó ông bà dẫn con ra công ty bách hóa để mua vải hoa. Lúc đang xếp hàng trả tiền thì cô bé đòi đi tiểu. Ông bế con đi vào nhà vệ sinh còn bà tiếp tục đứng giữ chỗ chờ đến lượt. Một lúc sau bà đột nhiên cảm thấy có người ở đằng sau đang khẽ động lên tóc mình. Bà se sẽ quay đầu lại và nhìn thấy ông đang bế con gái đứng ngay sau lưng, tay cầm bàn tay nhỏ xíu của con vuốt lên tóc vợ. Kể từ đó, mỗi lần nhìn thấy hoặc nghe thấy từ du dương là bà lại nhớ đến lần đứng xếp hàng ở công ty bách hóa ông đã mượn tay con gái để vuốt tóc mình. Đó chính là thứ ngôn từ du dương ông giấu kín để dành cho bà, cũng chính là cách ông công khai thể hiện tình yêu đối với bà. Giờ đây khi mà hai người đều đã già, toàn thân đâu đâu cũng thấy bệnh. Thính giác, vị giác, khứu giác và thị giác đều như nhau, đang dần từng bước lão hóa hết cả, nhưng mỗi lần nhớ lại ngày chủ nhật của hơn nửa thế kỷ trước đó, mái tóc đã lơ thơ bạc trắng và khô xác của bà lại vẫn có thể cảm nhận được sự tung bay thoáng qua, làn da nhăn nheo sau gáy của bà vẫn có thể cảm nhận được luồng tê dại nóng bỏng.
      Khoảng hơn một tiếng đồng hồ sau, cô Điền lại trở về, tay xách cái túi đựng đồ của Gia Lạc Phú miệng liến thoắng: “Than đến rồi! Than đến rồi! Của hiếm đấy! Mỗi Gia Lạc Phú có!”.
Nước trắng trong nồi lẩu được sự cổ động của than củi, chẳng bao lâu sau bắt đầu lên tiếng lục ục. Cô Điền mời cụ ông cụ bà nhập tiệc, lại mau mắn giúp hai người nhấc cái vung nồi lẩu nóng rẫy tay đặt sang một bên.
      Ông bà ngồi xuống đối diện với nhau rồi không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn qua chiếc đồng hồ treo trên tường. Lờ mà lờ mờ! Hình như là 11 rưỡi rồi? Nếu không thì là 12 rưỡi? Hai người trong lòng ái ngại đồng thanh nói: “Thật đã khiến cô phải vất vả rồi!”.
      Không có tiếng cô Điền trả lời. Cô sớm đã lén chuồn ra ngoài rồi. Cô biết rõ rằng trong lúc này, đừng nói là bên cạnh hai cụ có thêm một người, cho dù chỉ thêm một cái bát không thôi cũng đủ khiến hai người vướng mắt.
      Ông bà yên lặng ngồi ăn lẩu. Cũng giống như trước đây, vẫn là bà tiếp cho ông nhiều hơn. Hai người không còn ăn nhiều được như ngày xưa. Cảm nhận của vị giác đối với miếng thịt nhúng tươi ngon và những chua, chát, mặn, ngọt của gia vị cũng đã giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên nồi lẩu bốc hơi nghi ngút trên bàn kia vẫn khiến ông bà vô cùng hứng khởi. Hai người cùng gắp bỏ vào nồi thịt cừu và đồ ăn trong những khay đĩa nhìn rối cả mắt bốn xung quanh. Bà vớt mấy miếng thịt cừu cho vào bát ông. Ông thì gắp một miếng đậu đông bỏ sang bát bà. Bà lại vớt cho ông một miếng tảo biển. Ông cứ như đang thi đua với bà vậy, cũng chăm chú đi mò tảo biển. Mò một lát, ông đột nhiên cảm thấy đầu đũa đang trầm mình trong nồi nước lẩu mắc phải một thứ gì đó rất đầm bèn vội cắp chặt lấy nó rồi nhấc lên. Một miếng tảo biển! Dài như một quả mướp nhỏ! Ông giơ cao đôi đũa bảo: “Bà ăn đi!”.
      Bà nhường nhịn: “Ông ăn!”.
      Ông đưa đôi đũa về phía bát bà: ‘Bà ăn đi!”.
      Bà giơ tay ngăn lại nói: “Ông ăn! Ông thích ăn mà!”.
      Ông đắc ý bỏ miếng tảo biển đang kẹp chặt trên đầu đũa vào bát của bà: “Hôm nay tôi cứ muốn gắp cho bà ăn!”.
      Bà cảm thấy trong làn hơi nước nóng hổi đang bao phủ, khóe mắt hơi đỏ của ông ngập tràn vẻ mừng vui hớn hở. Bà cười khẽ rồi cúi xuống cắn một miếng nhỏ tảo biển trong bát. Cắn không được! Bà lại thử một lần nữa. Vẫn không thể cắn được! Bà bèn gắp miếng tảo biển giơ lên sát mặt nhìn kĩ lại.
      Nhìn rõ rồi!
      Bà đang cắn một mảnh giẻ lau!
      Hai người đã gắp miếng vải mà bà vừa lau bỏ vào nồi nước lẩu.
      Ông hỏi bà ăn có ngon không?
      Bà vội gắp một lá bắp cải to trong khay đậy lên miếng tảo biển: “Ngon! Ngon lắm!”.
      Bà mừng vì chính mình chứ không phải ông vớ phải miếng tảo biển đó. Bà còn muốn nói với ông rằng, trong đời bà, đó là thứ hương vị biển tươi ngon nhất mà bà đã từng ăn. Chỉ có điều, một luồng nhiệt nóng bỏng từ tận sâu trong lòng bỗng trào lên khiến bà nghẹn ngào không nói nên lời.
      Bà không nói thêm được câu nào nữa.
      Ông lại bỏ vào nồi một nhúm mì gạo. Bà không ngăn ông. Lúc húp nước mì, chẳng ai phát giác ra mùi thuốc đánh răng hết.
      Bà ôm cái bát bằng cả hai tay. Bà muốn bảo với ông rằng, hôm nào trời đẹp phải đến bệnh viện một chuyến. Bà muốn biết phòng điều trị trong đó có cho nam nữ nằm chung không? Bà mong muốn nhất là được nằm cùng phòng bệnh với ông.
      Tuyết vẫn còn rơi. Ngoài cửa sổ trắng xóa một màu. Cây lựu trước sân chắc không còn giống như đang khoác lên mình chiếc áo len trắng nữa. Bà e nó đã mặc áo bông rồi!
Thiên Thai dịch

 ---------------------
[1] DongLaiShun là quán lẩu thịt cừu nổi tiếng có lịch sử  trên 100 năm của Bắc Kinh. Lẩu của họ chỉ dùng thịt cừu của Nội Mông, nồi lẩu bằng đồng và được đun bằng than củi.




Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắnHG: Những chuyện buồn chán xảy ra từ ngày hôm qua. Tựa như đối với mình, hôm qua là thứ Sáu ngày Mười Ba vậy. Dư âm sang ngày hôm nay mãi không tắt được... 
Người ta mê tín ngoài vì "truyền thống" gia đình, còn có nguyên do là cần phải có một thứ "thuốc phiện" để ru ngủ tinh thần. Mình sẽ tự ru ngủ bằng bài đăng này. Mong ngày mai tỉnh dậy, những gì hôm qua, hôm nay... biến mất. Mai là thứ Bảy, ngày Mười Bốn.

  
Thứ Sáu ngày 13 của bất kỳ tháng nào trong bất kỳ năm nào được xem như một ngày kém may mắn.

     Thứ Sáu ngày 13 của bất kỳ tháng nào trong bất kỳ năm nào được xem như một ngày kém may mắn ở nhiều nước phương Tây, điển hình tại Anh Quốc, Đức, Bồ Đào Nha. Điều tương tự còn bắt gặp cả những nơi khác trên thế giới như tại Hy Lạp và Tây Ban Nha. Nỗi ám ảnh về Thứ Sáu ngày 13 đã được gọi là paraskavedekatriaphobia, một câu bắt nguồn từ những từ móc nối vào nhau của người Hy Lạp có nghĩa là "Thứ Sáu, số thứ tự thứ 13, sự sợ hãi/ám ảnh từng người". Đánh vần xen kẽ nhau các từ nói trên có thể tổ hợp thành các từ paraskevodekatriaphobia, paraskevidekatriaphobia, hay friggatriskaidekaphobia và là một hình thái đặc biệt của triskaidekaphobia (nỗi ám ảnh về con số thứ 13).

Bắt nguồn từ tôn giáo
      Những lo lắng xung quanh thứ Sáu ngày 13 bắt nguồn từ các niềm tin tôn giáo về vị khách thứ 13 tại Bữa tiệc cuối cùng. Đó là Juda - tông đồ được cho là đã phản bội Chúa Jesus. Cùng với đó là ngày Chúa Jesu bị đóng đinh diễn ra vào thứ Sáu – ngày đó được gọi là ngày treo cổ và đã trở thành một nguồn lo lắng, giáo sư Vyse nói.
       Hai nỗi lo sợ trên kết hợp lại thành nỗi lo của thứ Sáu ngày 13.
     Những điều cấm kỵ đối với con số 13 đã lan truyền trong các khu vực đạo Cơ-đốc giáo và ngoài Cơ-đốc giáo. Nó trở nên phổ biến rộng rãi thông qua thế giới Âu-Mỹ, và thấm nhuần trong nền văn hóa, vô cùng bền bỉ.
      Theo Phillips Stevens Jr, giáo sư nhân chủng học tại Đại học Buffalo ở New York, điều thú vị hơn nữa là lý do mọi người kết hợp bất kỳ thứ Sáu ngày 13 nào với điềm đen đủi. Câu trả lời nằm ở các nguyên tắc "suy nghĩ ma thuật" có trong các nền văn hóa trên thế giới.
      Một trong những nguyên tắc này liên quan đến những thứ hoặc những hành động - nếu chúng "giống với những thứ khác theo bất kỳ phương thức nào như hình dạng, âm thanh hay hương vị, màu sắc, và mọi người thường có xu hướng nghĩ những thứ đó có liên quan đến nhau và theo quan hệ nhân quả", ông giải thích.

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn
Ở đây, đã có 13 người có mặt tại Bữa tiệc cuối cùng, vì thế bất kỳ
cái gì liên quan đến số 13 đều bị xem là điểm xấu.
      
      Thomas Fernsler, một nhà khoa học chính sách liên kết trong Trung tâm Toán học và Tài nguyên Giáo dục Khoa học tại Đại học Delaware ở Newark, cho biết con số 13 còn "chịu khổ" vì vị trí của nó đứng sau số 12.
      Theo Fernsler, các nhà logic số xem 12 là con số "đầy đủ". Có 12 tháng trong năm, 12 cung hoàng đạo, 12 vị thần của Olympus, 12 lao động của thần Hercules (trong thần thoại Hy Lạp), 12 bộ tộc của Israel, và 12 tông đồ của Chúa Jesus.
      Sau đó, đến ngày thứ Sáu. Không chỉ Chúa Jesus bị đóng đinh vào ngày hôm đó, mà một số học giả tin rằng Eva đã cám dỗ Adam bằng trái cấm vào ngày thứ Sáu. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là niềm tin rằng Abel đã bị giết bởi anh trai Cain (đều là con trai của Adam và Eva) vào thứ Sáu ngày 13.

Những câu chuyện được truyền tai nhau vào ngày 13 thứ 6:

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn      13/10/ 1307: Các vị tướng dưới thời vua Philip IV của Pháp đã cho quân tàn phá nhà cửa của hàng ngàn lính Thập Tự Chinh. Nhiều người bị bắt và bỏ tù. Trong đó, hơn 100 người chết vì bị tra tấn dã man.









Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn      13/7/1984: Một sự kiện khá huyền bí liên quan đến hiện tượng thiên văn là nhật thực. Nó từng bắt đầu xảy ra đúng vào thứ Sáu ngày 13 tháng 7 năm 1984 và 13 tháng 2 năm 1987.


   












Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn    Tàu con thoi Apollo 13 của trung tâm vũ trụ NASA  cất cánh vào lúc 13 giờ 13 phút và phát nổ vào ngày 13 tháng 4…Một dấu hiệu xui xẻo nữa vào ngày 13.












      

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn     Con tàu HMS Friday của Anh xuất cảng vào thứ 6 ngày 13, tuyển chọn thủy thủ đoàn cũng vào ngày thứ 6, thuê một người tên Jim Friday làm chủ tàu. Kết quả là, sau chuyến đi đầu tiên vào thứ 6, con tàu không bao giờ trở lại nữa.

 
       
       










Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn  Vào ngày 13 tháng 3 năm 1992 ở Thổ Nhĩ Kì đã xảy ra một trân động đất lớn đã lấy đi sinh mạng của hơn 2000 người và có khoảng 50.000 người đã mất nhà cửa. Đây được coi là một thiên tai mang đến thiệt hại nặng nề nhất của Thổ Nhĩ Kì trong những thập kỉ qua .





Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn        Ngày 13 tháng 10 năm 1972 một chiếc máy bay đã rơi ở vùng Andes và những hành khách còn sống sót đã kể lại: họ đã phải ăn thịt người. Hay nói cách khác là họ đã phải ăn thịt những hành khách đã chết, để tồn tại trước khi được giải cứu 2 tháng sau đó.








Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn     Thứ 6 ngày 13-7-1951 tại Kansas những cơn mưa lớn đã làm cho nước sông ở đây đột ngột dâng cao. Như một kết quả tất yếu, nước sông dâng lên quá nhanh đã tạo thành một trong những cơn lũ lớn nhất trong lịch sử, được biết với cái tên “Great Flood”. Nó đã làm ngập hoàn toàn 2 triệu mẫu (tính theo đơn vị Anh) tại Kansas, giết chết 24 người và gây thiệt hại tới 760 triệu USD.


     



Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn 
 Một chú bé 13 tuổi đã bị sét đánh khi đang tham gia một buổi tiệc tại Suffolk vào thứ 6 ngày 13 tháng 8 năm 2010, và xe cứu thương chở chú bé cũng mang biển số là 13.13. 









      
Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn  
      Theo các nhà thiên văn học thì một thiên thạch mang số hiệu 99942 rất có thể sẽ có cuộc va chạm vào trái đất ngày thứ Sáu 13 tháng 4 năm 2029.











Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn     Butch Cassidy một tên cướp ngân hàng khét tiếng tại Mỹ được sinh vào ngày thứ 6, 13 tháng 4 năm 1866.

      
      








Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn     Nhiều bệnh viên không bao giờ có căn phòng được đánh số 13, hay cũng như nhiều nhà cao tầng họ thường bỏ qua tầng số 13.










      
Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn     Woodrow Wilson Tổng thống Hoa kì luôn coi số 13 là con số may mắn của mình, với kinh nghiệm cùng bản lĩnh của bản thân ông lấy điều đó làm cơ sở cho niềm tin vào con số may mắn của mình. Trong một lần ông đến Normandy, Pháp vào thứ 6 ngày 13 tháng 12 năm 1981 để đàm phán về hiệp ước hòa bình, nhưng khi ông về nước thì hiệp ước đã không được quốc hội thông qua. Và ông đã đi khắp nước Mỹ để kêu gọi sự ủng hộ cho hiệp ước này, trong chuyến đi ông đã bị đột quỵ gần tử vong.


      
Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn 
       Ngày 13 tháng 8 năm 1993: Royal Plaza Hotel đã từng là niềm tự hào của thành phố Nakhon Ratchasima ở Thái Lan, nhưng tất cả đã thay đổi vì một sơ suất của kỹ sư đã dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của tòa nhà. Không thể duy trì được trọng lượng của mình, cả kiển trúc đồ sộ đã rơi xuống mặt đất trong vòng vài giây và dẫn đến cái chết của 137 người và  227 người khác bị thương.




Tác động đến con người
      Ước lượng có chừng 800/900 nghìn tỉ USD bị thất thoát trong vấn đề kinh doanh vào ngày này bởi vì mọi người sẽ làm việc uể oải, hoặc không đi ra đường. Vài người đã bị tê liệt bởi sự sợ hãi và họ đơn giản là sẽ không thể bước ra khỏi chiếc giường khi thời gian ngày thứ Sáu ngày 13 chưa trôi qua. Trung tâm Kiểm soát sự gây stress (The Stress Management Center) và Viện Nghiên cứu những Ám ảnh (Phobia Institute) ước lượng có hơn 17 triệu người đã bị ảnh hưởng bởi sự sợ hãi vào ngày này. Bất chấp điều đó, những người đại diện cho cả hai hãng hàng không Delta Airline và Continental Airline nói rằng những chuyến bay của họ không chấp nhận bất cứ lời đề nghị hạ cánh nào vào thứ Sáu ngày 13.

Những sự thật đáng sợ về thứ 6 ngày 13 | Thứ Sáu ngày 13,Ngày đen tối,Ngày kém may mắn      Cuốn Tạp chí Y học Anh quốc có kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự gia tăng quan trọng những vụ tai nạn giao thông vào thứ Sáu ngày 13. Ngày nổi tiếng đối với cộng đồng xe máy: kể từ năm 1981, những người có nhiệt huyết với xe máy và những người bán xe đã tụ tập vào mọi thứ Sáu ngày 13 tại Port Dover (Ontario, Canada). Truyền thống này đã được bắt đầu vào ngày 13 tháng 11 năm 1981 bởi Chris Simons được xem như là cuộc họp mặt khoảng chừng 25 người. Sự kiện này trở nên lớn hơn trong những năm tiếp theo, với ước lượng khoảng 100.000 người tham dự tháng 8 năm 2004 cùng các ban nhạc, người bán hàng, tay lái xe v.v.


     Vào thứ Sáu ngày 13, một số người còn sợ đến nỗi họ tự nhốt mình ở trong nhà; một số không còn sự lựa chọn nào ngoài việc nghiến răng và lo lắng tụ họp cùng nhau qua ngày này. Tuy nhiên, nhiều người lại từ chối bay máy bay, mua nhà hoặc mua một cổ phiếu nóng vào ngày này.
      Để vượt qua nỗi sợ hãi này, mọi người thực hiện các hoạt động nhỏ để thư giãn, chẳng hạn họ có thể rời khỏi nhà và tụ họp với người bạn thân tại một quán cà phê ấm cúng.
      "Hãy cố gắng làm những việc nho nhỏ mà mọi người cảm thấy miễn cưỡng khi làm vào những ngày thường và hy vọng sẽ không có gì khủng khiếp xảy ra trong ngày hôm đó, và mọi thứ sẽ lại tiếp tục khi ngày này qua đi", Vyse nói.
Theo Genk.vn/PLXH

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Lẵng quả thông và nàng Solveig


                                                                                              
                                                                                                                      Ngọc Anh
Bạn đã từng nghe "Khúc hát của nàng Solveig" (Solveig's song) nhưng không để ý đến tác giả của bản nhạc ư? Thế thì bạn cũng giống như Đanhi trong "Lẵng quả thông" vì được làm quen với Grieg mà không hề hay biết... 


      Nếu bạn đã từng đọc “Lẵng quả thông” - thiên truyện nổi tiếng của nhà văn Nga Konstantin Paustovsky, hẳn sẽ không thể quên được nhân vật nhà soạn nhạc Edvard Grieg và bản nhạc tuyệt vời mà ông viết tặng Đanhi, cô con gái một người gác rừng, nhân dịp cô tròn 18 tuổi. 
 
“Bản nhạc đã không còn ca hát. Nó đang kêu gọi. Nó kêu gọi con người hãy đi theo nó đến một xứ sở, nơi không đau khổ nào có thể làm nguội lạnh tình yêu, nơi không có ai giành giật hạnh phúc kẻ khác, nơi mặt trời sáng chói như vòng triều thiên trên đầu một nàng tiên trong cổ tích.” (trích “Lẵng quả thông”) 
        Có thể bạn đã thấy ghen tị với cô gái Đanhi may mắn ấy. Nhưng đó chỉ là một nhân vật hư cấu của Paustovsky mà thôi, và chính bạn cũng có thể hưởng niềm hạnh phúc giống như Đanhi khi bạn được thưởng thức âm nhạc của nhà soạn nhạc người Na Uy Edvard Grieg (1843 – 1907).
 
      Bạn đã từng nghe "Khúc hát của nàng Solveig" (Solveig"s song) nhưng không để ý đến tác giả của bản nhạc ư? Thế thì bạn cũng giống như Đanhi vì được làm quen với Grieg mà không hề hay biết: “Vậy ra đó chính là bác ấy. Chính cái ông già đã giúp cô bé Đanhi mang lẵng quả thông về đến tận nhà. Đó là Edvard Grieg, người làm ra phép lạ và nhạc sĩ vĩ đại.”  
    Solveig nguyên là một vai nữ chính trong vở kịch thơ “Peer Gynt” của nhà viết kịch nổi tiếng người Na Uy Henrik Ibsen. "Khúc hát của nàng Solveig" được vang lên trước đông đảo công chúng lần đầu tiên vào ngày 24/2/1876. Đó cũng chính là ngày công chúng Christiania (nay là Oslo), Na Uy háo hức đi xem buổi công diễn lần đầu vở kịch mà trước đó 9 năm đã bán rất chạy dưới dạng bản in ở Copenhagen, Đan Mạch.  
     Cảm giác khi đọc một vở kịch trên văn bản và khi xem vở kịch đó được diễn trên sân khấu thật khác biệt. Với “Peer Gynt”, sự khác biệt này lại càng rõ rệt vì phần nhạc nền viết cho vở kịch là do Edvard Grieg đảm nhiệm.  
    Toàn bộ Nhạc nền “Peer Gynt” gồm 23 tiết mục (cả khí nhạc và thanh nhạc) với tổng thời lượng xấp xỉ 90 phút. Tất nhiên phần lời của những tiết mục thanh nhạc là do Ibsen viết. Đó là những tiết mục âm nhạc tuyệt vời, đóng góp một phần không nhỏ vào thành công cho buổi diễn. Và từ sân khấu kịch nói Na Uy, Nhạc nền “Peer Gynt” đã có một đời sống riêng trên sân khấu hòa nhạc thế giới dưới hình thức tổ khúc (suite). 
     Tổ khúc là một bộ các tác phẩm khí nhạc được sắp xếp theo thứ tự nhằm để biểu diễn riêng một mạch. Đến thế kỉ 19, tổ khúc có thể là một bộ tuyển chọn cho dàn nhạc từ một tác phẩm lớn như ballet, opera hay nhạc nền cho kịch nói như trường hợp “Peer Gynt”.       Hai "Tổ khúc Peer Gynt"(số 1 Opus 46 và số 2 Opus 55), được Grieg rút ra từ phần nhạc nền "Peer Gynt", đã trở nên nổi tiếng với vai trò là những tác phẩm hòa nhạc độc lập. Mỗi "Tổ khúc Peer Gynt" gồm có 4 khúc nhạc với tên gọi cụ thể. Khúc nhạc thứ tư của "Tổ khúc Peer Gynt" số 2 chính là bản nhạc "Khúc hát của nàng Solveig". 
      "Khúc hát của nàng Solveig" trong phần nhạc nền “Peer Gynt” là bài hát cho giọng nữ do Grieg phổ lời thơ Ibsen (tương tự như tiết mục cuối cùng là “Bài hát ru của Solveig”). Đó là bài ca về lòng thủy chung, về niềm hi vọng đoàn tụ bất chấp sự nghiệt ngã của thời gian và khoảng cách. Nhưng trong "Tổ khúc Peer Gynt" số 2, giai điệu "Khúc hát của nàng Solveig" do violon đảm nhiệm thay cho giọng hát dù đôi khi phiên bản thanh nhạc cũng được sử dụng. 
     "Khúc hát của nàng Solveig" có lẽ là bản nhạc nổi tiếng nhất trong cả hai "Tổ khúc Peer Gynt". Nhưng bạn đừng dừng lại ở đó. Hãy tìm nghe trọn vẹn cả hai tổ khúc này và những kiệt tác khác của Edvard Grieg như Concerto cho piano giọng La thứ, Sonata cho violon và piano, Tổ khúc Holberg, tiểu phẩm cho dàn nhạc “Mùa xuân cuối cùng”... 
     Lúc ấy bạn sẽ hiểu vì sao âm nhạc của Edvard Grieg không chỉ được nhân dân Na Uy mà cả thế giới ngưỡng mộ. Bạn sẽ đồng tình với nhận xét của nhà soạn nhạc Nga Tchaikovsky: “Âm nhạc của Grieg giàu chất thương cảm đắm đuối, mang trong mình vẻ đẹp của thiên nhiên Na Uy, khi thì ảm đạm, khiêm nhường, khi thì hùng vĩ, tráng lệ, có một sức quyến rũ không tả xiết, luôn tìm thấy trong mỗi chúng ta một lời đáp đồng tình nồng nhiệt”. 
                                 (Theo TuanVN.net)
Mùa đông Na Uy

---------------------------------------------------------------------
Lời Việt: Khúc hát nàng Son-vây. Giọng hát Lê Dung:
Mùa đông dù trôi qua
Mang bóng dáng đông qua xuân về
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Dù cho ở nơi ấy
Mang chiếc bóng cô đơn bên mình
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Ngàn trùng dù có cách xa
Anh sẽ về rồi anh sẽ về
Lòng em luôn luôn hằng nhớ.

Tình này em xin hiến dâng,
Có bao giờ nhạt phai trong lòng
Tình em yêu anh không phai.

***

Dù cho ở nơi ấy
Anh vẫn sống yên vui thanh bình
Và những giấc mơ em bên mình.

Dù cho ở nơi đây
Mang chiếc bóng cô đơn bên mình
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Ngàn trùng dù có cách xa,
Em vẫn chờ dù đến bao giờ,
Lòng em luôn luôn hằng nhớ.

Trọn đời em xin hiến dâng,
Có bao giờ nhạt phai trong lòng
Tình em bên anh không phai...

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Vẫn hót bài ca thê thảm

HG: Tối nay mình cũng sẽ đi xem một vở kịch của Lưu Quang Vũ. Xin thắp nén tâm nhang tưởng nhớ  một gia đình Họa Mi...
                                                                                               
                                                                                                        Truyện ngắn
                                                                                                                                 Trần Thị Trường
        Chúng tôi rất thích xem hát kịch và có lẽ do cùng một đam mê ấy mà chúng tôi đã sống một thời gian dài với nhau mà vẫn không chia tay như những đôi trai gái khác sống dưới trời Âu này. Ở đây nhiều người cho rằng mọi thứ trên đời, kể cả tình người rồi thì cũng đáng vứt đi như những đồ đạc cũ, không gì chán bằng những thứ mà một thời mình đã quá yêu... Cánh đàn ông cho rằng hôn nhân là một cái lồng, con hoạ mi tình yêu bị nhốt trong ấy chỉ biết hót bài ca thê thảm, bài ca bi ai than vãn cho tự do đã mất hoặc khốn khổ hơn nữa là mất hẳn khả năng hót ca. Vậy mà chúng tôi đã gắn bó với nhau được bốn năm ròng. Có nhiều lúc cả hai cũng đã nghĩ đến chia tay vì những va chạm khó chịu nho nhỏ. Song, phần vì sống riêng lẻ ở nơi tha hương này là một điều đáng sợ, chẳng ai dám "cho một nhát búa là tan", phần vì nhà hát lại diễn vở mới mà cả hai đều muốn đi
xem nên chúng tôi lại làm lành với nhau. Cái thú đi xem của chúng tôi giống như toàn thể dân châu Âu, hết bổn phận của một ngày, người ta vẫn còn dư dả thời gian. Kẻ khoe cơ bắp và dạ dày thì đến các câu lạc bộ để lo "cứu rỗi thân xác", kẻ muốn chăm sóc tâm linh thì sẽ đi nhà thờ, người muốn hồn và xác cùng lên chín tầng mây thì đi nhà hát, ở đó mỗi người đều tìm thấy một nhân vật giống mình trên sân khấu... Hôm tôi mua vé đi xem là buổi diễn đặc biệt. Rất khó mua vé. Thường họ diễn những vở kịch hài châm chọc lối sống thường dân, thô kệch và bần tiện hoặc chế giễu các chàng cảnh sát vừa làm ra vẻ nghiêm trang vừa thích ăn chặn của dân. Những kịch ấy anh bạn tôi thích thú lắm, anh được cười một cách thoả thuê. Lần này khác hẳn, vở kịch viết về một nhân vật trước Công nguyên, có vẻ như một huyền thoại và phi lý, vở Ngày cuối cùng của Socrates. Anh định không đi, anh bảo: "Anh không thích cái gì chỉ là huyền thoại, anh ưa những gì sờ được, mấy cha triết gia già cỗi ấy chả có ích gì cho cuộc sống cả, hắn thậm chí còn là kẻ thù của sự vận động đầy văn minh và tốc độ này". Tôi dỗ dành: "Thôi, em đã mua vé rồi". Anh bảo: "Thôi được, vì nể em đấy, nhớ mà trả "thù lao" cho cẩn thận". Tôi bảo: "Anh không thấy cái chết bao giờ cũng hấp dẫn đời sống à? Mà cái chết của triết nhân còn hàm chứa một thức tỉnh nào đó nữa cơ". Anh thở dài.


*

        Màn mở, tiếng vọng hậu trường của một phán quan đang kết tội Socrates: "Ngươi mắc ba tội trọng, một là người đã không tin vào tôn giáo của nhà nước đề ra, hai là người dám cả gan nhập vào đất nước này những thần thánh mới, ba là với những lời rao giảng của ngươi làm cho thanh niên của đất nước chúng ta nghi kỵ, thiếu lòng tin vào thần thánh cũ... Vì những trọng tội nguy hiểm ấy ngươi sẽ phải chết, bản án đã được công bố khắp thành bang, nay công bố trước ngươi và vợ ngươi. Các ngươi có thể bàn nhau, xin ân xá hoặc chia tay nhau, trong ngày cuối cùng này...".
       Trên sàn, người đàn bà quỳ mặc toàn đồ đen, dáng lả lướt mảnh mai. Phía xa xa là cảnh buổi sáng của thành Aten đầy nắng. Ngồi trước bà là Socrates chân bị xích xiềng, quần áo rách bạc, vẻ mặt hốc hác nhưng hai mắt rực sáng, dáng vẻ kiêu hùng. Tiếng người đàn bà vừa tha thiết vừa quyết liệt:
- Mình ơi, em van mình, em xin mình, mình hãy nghĩ lại, người ta cho mình nghĩ lại, người ta cho phép mình được sống, mình đừng chết, cái chết chẳng có ích cho ai, chỉ thiệt cho mình, chỉ thiệt cho em và cho con, em xin mình.
- Chẳng còn cách nào khác, tôi không muốn thay đổi, tôi thấy chẳng có gì sai nên tôi chọn cái chết này làm hạnh phúc cho mình, - Socrates trả lời vợ.
- Không mình ơi, mình đừng lựa chọn cái chết, mình hãy sống, mình có thể nhận tội, kể cả những tội mình không có cũng được. Để sống mình ạ. Đừng chết. Người ta bảo, rằng chỉ cần mình nói những lời họ buộc tội mình là thiếu căn cứ. Sau khi nói thế, chén thuốc độc định mệnh của mình sẽ ở trên môi kẻ tố giác mình. Chúng tố giác mình vì chúng ghen ghét và đố kỵ với mình.Và họ không thích cái cách mà mình tỏ ra kiêu hãnh trước độc quyền chân lý của họ .
- Mình tha hóa từ bao giờ thế. Sao mình lại muốn tôi nhận tội. Tôi không bao giờ nhận tội cả! Việc tôi làm không phải là tội lỗi.
- Nếu không nhận tội thì mình xin xỏ, hay mình cố nói những lời khác trước vậy. Họ bảo rằng mình có thể nói khác những điều mình đã nói, mình hãy nói rằng cuộc đời này rất hoàn thiện, không có bất công, mọi sự thật nằm ở môi nhà nước, dối trá không hiện diện. Mọi người đều hạnh phúc. Đau khổ chỉ là số rất nhỏ, ai nói thế là kẻ phá bĩnh.
- Không, tôi bảo rằng cuộc đời không thể hết bất công. Song, là người có quyền lực, hay bất cứ ai thà phải chịu bất công chứ đừng sinh ra bất công. Tôi bảo rằng dối trá hiện diện khắp nơi, sự thật luôn bị lớp lớp hoả mù che lấp.
- Họ bảo, mình không nên nói, hãy im lặng. Ít nhất mình hãy giống mọi người không được nói gì. Nếu muốn nói, mình hãy nói ở trong các căn phòng hẹp, trong bóng tối thì mình cũng được tha lỗi.
- Không, tôi nói ở bất cứ nơi nào có người muốn nghe tôi nói. Lời nói của tôi về sự thật này phải được nói ra ở nơi quang minh chính đại.
Thiếu phụ lết đến chân chồng:
- Em van mình, nếu thế thì mình sẽ phải chết. Sự thật bị phơi bày nơi công chúng. Khác nào thuốc súng. Em xin mình, mình hãy đứng trong trật tự chung, trong trật tự có sẵn để bản thân mình được an toàn, em và con được bằng an. Mình hãy thương lấy bản thân mình và thương lấy con! Chẳng lẽ mình không còn yêu thương em và con nữa
- Một trật tự giả hiệu và đầy rẫy ô trọc. Không bao giờ! Tôi sẽ đánh đổi, cái chết của tôi sẽ thức tỉnh sự im lặng khốn nạn.
- Mình ơi, lẽ nào mình khăng khăng chọn lấy cái chết? Hay mình cần được vinh quang. Vinh quang chỉ là một ảo ảnh. Đừng bị nó cám dỗ. Em và con thì có thật. Cha mẹ mình thì có thật.
Socrates trừng mắt nhìn vợ.
- Mình, em van mình, em xin mình tha thứ cho em vì em đã nói như thế với mình, chỉ vì em không muốn mình phải chết. Chỉ vì em nghĩ đến con.
Ánh mắt của Socrates dịu lại:
- Nín đi em, nín đi Xanthippe thân yêu, đừng khóc, nước mắt của chúng ta quý lắm, hãy dành cho con trai, nó còn bé bỏng. Mình đừng buồn, tôi lúc nào cũng ở bên mình, cả khi tôi đã chết, hãy tin như thế Xanthippe! Xin đừng tưởng cái chết sẽ làm nên vinh quang. Có nhiều kẻ khát thèm vinh quang mà cái chết của họ muôn đời ô trọc. Còn tôi, tôi chết vì cần phải thế, vì kẻ thù của tôi không muốn cho tôi sống. Chúng không muốn kẻ dám nói về sự thật được sống, chúng không muốn sự dối trá bị phơi bày. Và tôi chết thì chúng tưởng rằng thế là xong, nhưng không, cái chết của tôi sẽ chứng tỏ chúng là kẻ yếu đuối, kẻ sợ hãi sự thật. Và sự thật sẽ càng chói lọi hơn.
- Ấy vậy thì mình hãy đi trốn, có một hạm đội từ xa đến, họ báo tin với học trò của mình rằng họ sẽ chiến đấu cho mình. Toàn những học trò yêu quý của mình đang chờ giải vây cho mình đấy. Họ bảo nếu cần sẽ nổ súng.
- Đừng làm thế. Làm thế là phá cái luật đang thi hành ở đây. Bộ luật này là một vết nhơ của lịch sử. Cứ để thời gian phán xét cùng với cái chết của ta mà do luật, từ trên môi những kẻ cầm quyền bảo thế. Cám ơn những người anh em, song ta sẽ không chạy trốn đâu. Luật pháp này buộc ta phải chết thì ta chết. Cứ để cho những người tuyên án chịu trách nhiệm của họ. Vả lại ta chạy trốn há chẳng là sự thú nhận linh hồn hèn yếu hơn thân xác hay sao? Há chẳng đã quên rằng sứ mệnh mà ta đã chọn trong cuộc đời chính là sự báo động không nguôi về công chính, công bằng và lẽ phải hay sao?
Tiếng quát trong hậu trường:
- Thôi! Im ngay. Giờ chết của mi đã điểm. Hãy mau thi hành án, bát thuốc độc trước mặt kia, hãy uống đi, đồ phản loạn. Quân vô đạo! Sống không muốn lại muốn chết? Đồ ngu xuẩn. Mi đừng mong mở mắt được ai, chẳng ai thích cái chết như mi đâu.

*

       Trên sân khấu, trên bức phông màn, cảnh bình minh lúc trước đã chuyển dần thành chiều tà. Mặt trời đột ngột tắt lịm, sân khấu chìm trong bóng tối. Một phút. Đèn bỗng bật sáng màu máu đỏ. Thiếu phụ ngã gục xuống chân chồng. Hai vệ binh chạy đến cởi xiềng xích ở chân Socrates và ấn vào tay ông bát thuốc. Anh em và bạn hữu của ông cũng chạy lại để xin ông đừng uống, nhưng ông đã mỉm cười và uống một cách thản nhiên. Lát sau thân thể ông đổ xuống trùm lên người vợ, tạo thành một nhóm tượng tuyệt đẹp. Màn hạ.

*

       Phía dưới khán giả không một tiếng vỗ tay như thường lệ. Một khoảng lặng im đến rợn người, rồi người ta gào lên như vỡ ra. Nghe rõ tiếng la hét "Đúng là vết nhơ của lịch sử loài người". "Với con người không có cái chết nào vinh quang hơn". "Socrates xứng đáng đứng sau Jesus, con Đức Chúa Trời"... “Bọn già cỗi và cũ rích mới là bọn phản động”… Toàn thể nhà hát rung lên. Một biển người hừng hực kêu vang những từ: "công chính", "công bằng", “sự thật", "can đảm" và "vĩ đại"...
       Chúng tôi không thể nào chen ra sớm hơn, với vóc dáng vốn nhỏ bé của người Việt, chúng tôi gần như chìm trong biển người Âu. Đến khi ra được, anh nhìn tôi đầy bất mãn và giận dỗi, còn tôi, tôi chẳng hề bận tâm để hỏi anh giận dỗi cái gì, trong tôi tràn ngập hình ảnh Socrates và những lời nói của ông. Một quãng dài đi bên nhau ven công viên Mùa Đông, chúng tôi không nói với nhau câu gì. Mãi khi gần đến nhà, anh mới bảo: “Em có muốn quay lại sân khấu với thằng cha Socrates hiện hình thì cứ việc, anh chán ngấy hắn ta là tất nhiên rồi, nhưng anh chán cả cái bộ mặt đam mê những cái không đâu ba lăng nhăng này của em. Có chăng anh chỉ thương xót người đàn bà đã lấy phải một thằng chồng gàn dở như vậy, hỏng cả một đời.”
     Tôi vô cùng ngạc nhiên trước câu đuổi phũ phàng, bởi chúng tôi đang đứng trước cửa nhà anh. Tôi ngơ ngác rồi cúi xuống, anh nâng đầu tôi lên chỉ vào bầu trời trời đầy sao và chỉ vào dòng người vui vẻ đi trên đại lộ:
- Cuộc sống khác xa với sân khấu, với chữ nghĩa, với lời nói, em đừng bị lôi cuốn vào sân khấu đến mê muội như thế, cái cách truy tìm sự thật, cách minh chứng chân lý của mấy cha ấy xưa lắm rồi, cuộc sống nó giản dị chứ không phức tạp, nó diễn ra cấp tập và mạnh mẽ, không kịp để cho mấy cha ấy triết lý rồi mới sống đâu.
      Tôi len lén thở dài rồi chào tạm biệt trước con mắt ngạc nhiên của anh, từ trước tới nay anh vẫn cho rằng tôi không muốn ngủ ngoài vòng tay của anh.

*

         Tưởng chỉ một đêm như thế, ai ngờ suốt một tháng liền chúng tôi không ai tìm ai. Đôi khi đêm đến, cái khoảng cô đơn nhất của một ngày, khuôn mặt anh cũng hiện tới, chập chờn, sau khoảng khắc ngọt ngào, ký ức bỗng vụt ra một trân trối lời anh ta nói: "Tôi chán ngấy lão triết gia cổ lỗ đã đành, tôi còn chán cái vẻ mặt đam mê sự không đâu của cô".
       Tôi xua đuổi ngay lập tức cái khuôn mặt anh ra khỏi tâm trí tôi và chìm vào cuộc suy tư mới về thân phận người đàn bà có chồng là vĩ nhân hiện ra cùng cuộc đời các vĩ nhân khác cùng với những cái chết vì ước vọng thay đổi đời sống của họ. Những hình ảnh ấy hiện ra vô cùng sống động và hấp dẫn.
       Bẵng đi một dạo không gặp nhau như thế, chợt tôi nghe tin anh ấy bị bắt về tội giết người. Tin như sét đánh, bao nhiêu giận hờn quên hết, chỉ một niềm thương xót vì tôi tin chắc anh đã bị oan. Anh là người ưa thực tế nhưng chưa thực dụng đến mức có thể cướp giật của người khác để sống như một bọn chủ trương "hãy sống nốt đêm nay" vẫn thường làm ở đây để mà phải giết người.
       Chạy vạy khắp nơi tôi mới kiếm được tờ phép vào thăm "kẻ giết người". Trong song sắt nhà tù trông anh tiều tuỵ, bạc nhược, ủ rũ và vô cùng thê thảm. Tôi trào nước mắt, nhìn sang thấy mắt anh cũng đỏ hoe. Tôi không sao cất được lên lời. Mãi sau anh mới nói:
"Họ bắt nhầm mà anh không sao thanh minh nổi. Em còn nhớ thằng Hùng chứ, nó gửi chiếc cặp trong thùng hàng của anh, chiếc cặp đó nó đã giết thằng Hải mà lấy được. Lúc công an khui thùng tìm thấy chiếc cặp thì thằng Hùng đã chối phắt, anh không làm sao cãi nổi nó được. Sự việc rất là rắc rối. Điều duy nhất chỉ có em biết, rằng chính cái đêm thằng Hải bị giết thì chúng ta đi xem Socrates, khi chia tay nhau đã mười hai giờ khuya, em đi, còn anh về ngay buồng của mình với sự bực bội khôn tả về em, người đàn bà mà sự sắc sảo luôn đặt đàn ông vào giữa cuộc suy tư về cuộc đời. Thằng Hải chết, anh không hề biết, nhưng mọi tang chứng đã phản lại anh.”
- Thế còn thằng Hùng đâu? - Tôi hỏi.
- Nó đã về nước từ tuần trước.
- Sao lại thế?
- Nhiều người làm chứng cho nó vô tội.
- Sao lại thế?
- Em đừng hỏi sao lại thế. Nó là con ai em biết rồi. Dễ hiểu hơn nữa là mỗi người làm chứng rằng nó vô tội nó đã tặng mấy tờ xanh (1). Phần anh chỉ có em là người làm chứng duy nhất thì hôm nay mới đến, tuy vậy anh cũng chẳng mấy tin tưởng. Em có làm chứng thì chúng ta vẫn ít ỏi quá, bọn chúng đông vô cùng, những kẻ ngửa tay cầm tờ xanh ấy.
- Em không tin quan tòa lại như vậy, em sẽ đến làm chứng cho anh! Họ còn phải căn cứ vào nhiều điều khác nữa. Chẳng lẽ xét xử một con người lại giản đơn như vậy sao?
- Thôi vô ích em ạ, họ sẽ chẳng tin em đâu. Họ cũng chẳng làm gì đâu. Nguyễn Du đã nói, quả là rất đúng, nén bạc đâm toạc tất cả!
- Tin hay không là việc của họ, còn nói sự thật là việc của em. Sự thật là căn bản của đời sống. Không có sự thật đời sống mới loạn.
      Sau đó tôi còn đi lại nhiều lần nơi những cơ quan luật pháp nhưng đúng là không ai tin tôi. Họ rất có nhiều bằng cớ, chẳng hiểu lấy từ đâu ra là anh đã giết người. Tôi và anh đều thất vọng, chờ đợi những gì phi lý nhất dành cho số phận mình.

*

      Tôi về nước sau khi bản án được công bố, anh phải ở tù mười năm. Trong thời gian ấy chúng tôi vẫn thư từ cho nhau, tôi hứa sẽ chờ anh cho dù có chờ cả một đời. Mười năm nữa chúng tôi mới gặp lại nhau, cả tóc tôi và anh đã bạc trắng, chúng tôi không còn đến nhà hát xem kịch nữa nhưng vẫn mê những vở kịch, và anh chính là người đã viết lại vở kịch về Socrates bằng tiếng Việt để cho người Việt trên đất Âu xem (Ngày trước, chúng tôi xem người ta diễn bằng tiếng của họ). Chúng tôi không còn cho rằng Hôn nhân là một chiếc lồng nhốt con hoạ mi Tình yêu nữa. Nhưng con hoạ mi vẫn hót bài ca thê thảm vì giờ đây nó đã hiểu rõ những oan khốc cuộc đời.
10/ 1989
----------------------
(1) Đồng tiền mạnh

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Cần quái gì cái công bằng gớm ghiếc ấy!

                                                                                                                              Mi An
Một câu chuyện có thật ở Hà Nội, trường mầm non nọ thu 40.000 đồng/học sinh để tổ chức cho các cháu xem xiếc, nhưng vì không phải tất cả cùng đóng nên các cô bắc loa yêu cầu cháu nào không đóng tiền thì phải ngồi trong lớp. Và những đứa trẻ đã khóc...

     Nguyên văn câu chuyện được một vị phụ huynh kể trên trang mạng xã hội thế này: “Nhân kỉ niệm ngày 2.9 trường mầm non T.M – A (Hà Nội) tổ chức cho các con xem xiếc tại sân trường. Chi phí phải đóng của mỗi con là 40 ngàn đồng. Phụ huynh các bạn nhỏ hồ hởi đóng góp cho con. Sáng 30.8, đoàn xiếc về trường, nhạc tưng bừng phấn khởi.
http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/xa-hoi/Vietnam-issued-new-development-standards-for-5-year-old-children-Vha-08032010173440.html/meyeucon.org-305.jpg/image
Ảnh minh họa
    Từ phòng giám hiệu, tiếng cô giáo trên loa tròn vành rõ chữ: Alo, alo, đề nghị các vị phụ huynh cho con khẩn trương vào trường ổn định chỗ ngồi vì đã sắp đến giờ biểu diễn. Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học không được ra sân.
     Thảng thốt nghe đâu đó tiếng khóc, tiếng sụt sịt, tiếng xì mũi, tiếng nấc của những đứa trẻ mà bản thân chúng nó không hiểu sao bố mẹ không đóng nổi cho nó bốn chục ngàn…”
     Tôi đã khóc khi biết câu chuyện này. Thật khó hình dung một ứng xử tàn nhẫn và lạnh lùng như thế lại xảy ra trong một trường mầm non ngay giữa thủ đô. Nó cho thấy trong nhà trường bây giờ, nhiều thầy cô, những bậc được tôn kính gọi là “kỹ sư tâm hồn” đã trở thành cái máy thật rồi. Những cỗ máy không có trái tim, vì nếu là người, ai lại làm như thế.
     Tôi đặt ra trường hợp thế này, để thuê đoàn xiếc về trường biểu diễn cho trẻ xem, cần một số tiền là A, mặc dù không phải tất cả phụ huynh đều đóng tiền cho con (vì nhiều lý do, có thể quên hoặc gia đình không có điều kiện) nhưng trường cũng vẫn thu đủ số tiền là A. Bởi bằng chứng là vẫn có đoàn xiếc về trường diễn. Vậy thì tiếc gì một chỗ ngồi mà không cho tất cả con trẻ đều được ra xem?
     Nếu đó là những giáo viên có tình người, tất cả các cháu đều được mời ra xem xiếc, mà không cần phải có một thông báo gì hết. Còn giả sử, có máy móc một tý, các cô vẫn có thể nói với các con rằng: “Mặc dù có những bạn không đóng tiền, nhưng các bạn khác đã đóng đủ tiền để cho tất cả các con được xem xiếc hôm nay. Các con hãy vỗ tay cảm ơn các bạn mình vì điều đó và nhớ rằng, trong cuộc sống, chia sẻ với người khác, niềm vui và hạnh phúc sẽ nhân lên”.
     Vậy mà cả hai trường hợp đáng lẽ xảy ra đã không xảy ra, chỉ có một thông báo lạnh lùng: “Để công bằng cho các em đã đóng tiền, đề nghị những em chưa đóng tiền ngồi nguyên trong lớp học không được ra sân”. Than ôi, công bằng nào ở đây. Những đứa trẻ như búp non, vắt mũi còn chưa sạch thì chúng cần quái gì cái thứ công bằng gớm ghiếc xấu xí đó của người lớn?

     Tôi cứ hình dung ra hoàn cảnh những đứa bé bị nhốt trong lớp học vào cái buổi diễn xiếc ấy mà thấy lòng đau thắt. Chúng khóc, hẳn nhiên rồi, làm sao những đứa bé non nớt ấy không khóc cho được khi thấy các bạn bè hò reo vui vẻ ngoài sân, còn chúng thì phải ngồi ở đây. Đứa bé bỏng chưa hiểu chuyện thì ngơ ngác, đứa lớn hơn một chút sẽ biết, vì cha mẹ chúng đã không nộp 40.000 đồng. Chao ôi, có khi nào đồng tiền bốc mùi tanh lạnh như lúc này không?
     Mục đích cao cả nhất của giáo dục, theo tôi không phải kiến thức, mà là sự khai phóng và giúp con người ta hiểu thế nào là lòng nhân ái. Vậy mà trong nhà trường này, ở cấp học mà đối tượng học trò cần nâng niu nhất, lại ứng xử theo kiểu “tiền trao cháo múc”, ráo hoảnh lạnh lùng. Có tiền thì được phục vụ, còn không tiền thì xin mời nghỉ cho khỏe.
     Những đứa bé ấy, lớn lên sẽ nghĩ gì, sẽ học được gì từ bài học đắt giá mà các giáo viên đã dạy cho chúng, rằng trong cuộc đời này, chỉ có đồng tiền là tối thượng, còn lại tất cả đều vô nghĩa mà thôi.
     Sự vô cảm chưa lúc nào lại tràn ngập khắp nơi trong xã hội này, đến mức có cảm giác, nhiệt độ dòng máu nóng ấm chảy trong cơ thể chúng ta, cứ mỗi ngày, mỗi ngày lại nguội đi một chút. Thấy người cơ nhỡ hoạn nạn không chút xót thương, thấy người làm một việc tốt lành tử tế thì ngay lập tức nghi ngờ, không biết nó có định bẫy gì mình không. Nhiều người trong chúng ta đang dần dần hóa đá mà không biết.
     Câu chuyện về buổi xem xiếc trong trường mầm non này, tôi ước sao có thể đến được với các vị lãnh đạo của Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội, không phải để truy ra trường nào mà phê bình, trừng phạt. Chỉ cần các vị lấy đó làm một trường hợp cụ thể để cho các giáo viên thảo luận cùng nhau, chúng ta ứng xử như vậy đã đúng với tư cách của những người đang làm trong môi trường giáo dục, trồng người hay chưa. Chắc sẽ có ích cho các thế hệ tương lai nhiều lắm đấy.
     Cái khó nhất và cần phải hướng tới trong xã hội này, không phải là một cuộc sống ngày càng no đủ, sung sướng phủ phê hơn mà chính là những ứng xử nhân văn, là tình người. Thiếu nó, mọi thứ vật chất chỉ là của phù vân bèo trôi nước nổi.
(Nguồn: http://baodatviet.vn)