Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Tuyết

HG: Mình thấy nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật giữa  Paustovsky và Levitan. Bởi thế, làm một phép thử nho nhỏ gắn kết tác phẩm của họ: Toàn bộ chín bức tranh mình sử dụng minh họa cho truyện ngắn này đều là tranh của họa sĩ I. Levitan.

                                                                                                            Truyện ngắn
                                                                                                                                        K.Paustovxky

Landscape - Isaac Levitan        Tachiana Petrovna dọn đến nhà cụ Potapov được một tháng thì cụ mất. Nàng ở lại một mình với đứa con gái nhỏ là Varia và người vú già.
        Ngôi nhà nhỏ, chỉ có ba gian, ở trên một ngọn đồi trông xuống con sông phía Bắc ngay đầu tỉnh lỵ. Sau nhà, bên kia khu vườn đã trụi lá là một rừng bạch dương phơi màu trắng bạc. Ở đó, từ sáng đến tối, lũ quạ kêu quàng quạc, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trần trụi báo hiệu trời xấu.
        Từ khi rời Moskva, Tachiana mãi vẫn không sao quen được cái tỉnh lỵ đìu hiu với những ngôi nhà nhỏ bé, những cánh cửa hàng rào kêu ken két, những buổi tối vắng lặng, nghe rõ cả tiếng ngọn đèn dầu hỏa nổ lép bép. 

"Mình ngốc quá! - Nàng nghĩ - Không dưng đi bỏ Moskva, nhà hát và bè bạn! Đáng lẽ phải đưa Varia đến với bà vú ở Puskino, nơi đó chưa bị máy bay bắn phá lần nào, còn mình thì cứ việc ở lại Moskva. Trời, mình thật ngốc!".
       Nhưng không thể trở lại Moskva nữa rồi, Tachiana quyết định biểu diễn trong các trạm quân y lưu động- trong thị trấn cũng đã có vài trạm - và nàng cảm thấy trong lòng cũng khuây khỏa đôi chút. Nàng còn thấy thích cái tỉnh lỵ ấy nữa là khác, nhất là khi đông về và tuyết xuống phủ đầy. Ngày lại ngày, êm dịu và xám ngắt. Sông mãi chưa đóng băng, mặt nước màu xanh lá cây bốc khói.


         Tachiana quen dần với tỉnh lỵ và cả với ngôi nhà không phải của mình. Nàng đã quen chiếc dương cầm lạc giọng, những tấm ảnh úa vàng trên treo trên tường chụp những thiết giáp hạm cổ lỗ bảo vệ bờ biển. Trước kia, cụ Potapov làm thợ máy tàu biển. Trên cái bàn giấy phủ dạ xanh của cụ có đặt mô hình tuần dương hạm "Gromoboi", trên tàu đó cụ đã làm việc. Varia bị cấm không được sờ vào mô hình ấy. Và nói chung, con bé bị cấm không được sờ vào bất cứ vật gì.
        Tachiana biết cụ Potapov có con trai đang phục vụ ở trong hạm đội Hắc Hải. Trên bàn, bên cạnh mô hình tuần dương hạm, có bức ảnh của anh. Đôi lúc, Tachiana cầm bức ảnh lên xem, mê mải ngắm nghía rồi nhíu đôi lông mày thanh thanh lại, nghĩ ngợi. Nàng cứ có cảm giác là đã gặp anh ở một nơi nào đó, nhưng đã lâu lắm rồi, trước cả cuộc hôn nhân không toại nguyện của nàng. Nhưng ở đâu? Và khi nào nhỉ?
       Anh lính thuỷ nhìn nàng bằng đôi mắt bình thản hơi có vẻ chế nhạo, như muốn hỏi: "Thế nào chị? Chẳng lẽ chị vẫn chưa nhớ ra là chúng ta đã gặp nhau ở đâu hay sao?"
         - Không, tôi không nhớ
         Nàng trả lời khe khẽ.
         - Mẹ ơi, mẹ nói chuyện với ai thế?
          Varia từ phòng bên hỏi to.
         - Mẹ nói với cái dương cầm con ạ!
          Tachiana cười, trả lời con.
        Vào giữa mùa đông bắt đầu có những lá thư gửi cho cụ Potapov, những lá thư do cùng một bàn tay viết Tachiana xếp những lá thư ấy lại trên bàn.
       Một lần, đang đêm nàng chợt thức giấc. Ánh tuyết mờ mờ chiếu vào cửa kính. Con mèo xám Arkhiv của cụ Potapov để lại đang ngáy khò khò trên đi văng.
        Tachiana khoác áo choàng mỏng vào phòng làm việc của cụ Potapov và đứng môt lát bên cửa sổ. Một con chim lặng lẽ bay vụt ra khỏi cây làm tuyết đổ xuống. Tuyết bay như một thứ bụi trắng phủ một lớp mỏng trên mặt kính.
        Tachiana thắp ngọn nến trên bàn, ngồi xuống ghế bành và đăm đắm nhìn ngọn nến. Ngọn nến cũng chả buồn lay động. Sau đó nàng thận trọng lấy trong chồng thư ra ra một bức, bóc phong bì, nhìn chung quanh và bắt đầu đọc:

http://t2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcQNe9Vw6Pc_b1cfjhOqbyOmrJgyDsSt-2EXd8ElU3d87WsytRLc" Cha yêu quý, thế là con đã nằm bệnh viện được một tháng, - nàng đọc - Vết thương không nặng lắm. Đại thể là nó đang lên da non. Xin cha đừng lo lắng và chớ hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Con van cha đấy!"
" Con luôn nhớ đến cha, - Tachiana đọc tiếp - đến ngôi nhà của cha con ta, đến tỉnh lỵ của chúng ta. Tất cả những cái đó xa xăm quá, tưởng như ở đâu mãi chân trời. Con nhắm mắt lại và thấy con mở cửa hàng rào, bước vào vườn. Mùa đông, tuyết xuống, nhưng con đường nhỏ dẫn tới phong đình bên dốc đã được quét dọn sạch sẽ, và băng bụi phủ đầy những khóm tử đinh hương. Lò sưởi trong phòng kêu tí tách. Khói bạch dương thoang thoảng. Cây dương cầm cuối cùng đã được lên dây lại và cha đã cắm những cây nến vàng hình xoắn ốc con mua từ Leningrad vào những chân đèn. Và vẫn những bản nhạc ấy trên chiếc đàn? Bản tự khúc của vở nhạc kịch "Con đầm Pích" và tình ca "Trên bờ cõi Tổ quốc xa xôi." Không biết quả chuông treo ở cửa có kêu không? Thế là con vẫn chưa kịp chữa. Chả lẽ rồi con sẽ lại được gặp tất cả những cái đó? Chả lẽ rồi con lại được lấy nước giếng trong bình ra mà tắm sạch bụi đường xa? Cha còn nhớ không? Ôi, nếu cha biết được rằng từ chốn xa xôi này con yêu mến tất cả những cái đó biết chừng nào? Cha đừng ngạc nhiên, nhưng con nói với cha một cách thật nghiêm túc rằng con nhớ đến những cái đó trong những phút ác liệt nhất của trận đánh. Con biết rằng con đang bảo vệ không riêng gì bờ cõi đất nước mà cả cái góc nhỏ bé và thân yêu ấy trong lòng con: tức là cả cha, cả khu vườn nhà ta, cả những chú bé tóc bù xù trong làng ta, cả những khu rừng bạch dương bên kia sông và cả con mèo Arkhiv nữa. Xin cha đừng cười và đừng lắc đầu cha nhé! Có thể khi ra viện con sẽ được về nhà ít lâu. Điều đó chưa chắc lắm. Tốt hơn là cha đừng đợi".            


http://www.tuanvietnam.net/assets/images/levitan5.JPG      Tachiana ngồi rất lâu bên bàn, mắt mở to nhìn qua cửa sổ, nơi bình minh bắt đầu hé lên trong màu xanh dày đặc và nghĩ rằng sắp tới đây thôi, ngày một ngày hai, có thể sẽ có một người nàng không quen biết từ mặt trận trở về ngôi nhà này và người đó sẽ đau khổ khi phải gặp những người xa lạ ở đây và phải trông thấy mọi vật hoàn toàn không giống như ý người đó muốn.
      
       Sáng hôm sau, Tachiana sai Varia lấy xẻng ra dọn con đường dẫn tới phong đình trên bờ dốc. Cái lầu  đã hoàn toàn cũ nát. Những cột gỗ mốc meo, rêu phủ đầy. Tachiana tự tay chữa lấy quả chuông con treo trên cửa. Trên chuông có một hàng chữ đúc đến buồn cười "Ta treo trên cửa - hãy giật cho vui!" Tachiana đụng vào chuông, nó kêu lên lanh lảnh. Con mèo Arkhiv khó chịu, ve vẩy đôi tai, rồi bực dọc đi ra khỏi nhà: có lẽ nó cho tiếng chuông vui vẻ kia là càn rỡ.
        Trưa hôm đó, Tachiana, má ửng hồng, cười nói ầm ĩ, mắt quầng thâm vì xúc động, từ ngoài phố về dắt theo một ông lão lên dây đàn, một người Tiệp đã Nga hoá. Ông lão làm nghề chữa đèn cồn, đèn dầu hỏa, búp bê, acoocdeon và lên dây đàn dương cầm. Lão thợ sửa đàn có cái họ nghe rất buồn cười: " Nevidan" (của hiếm). Sau khi lên dây đàn, ông già nói rằng chiếc đàn cũ nhưng rất tốt. Không cần ông nói Tachiana cũng biết rõ điều đó.
       Khi ông lão về rồi, Tachiana cẩn thận lục khắp các ngăn kéo bàn và tìm thấy một gói to những cây nến hình xoắn ốc. Nàng cắm vào các chân nến đặt lên chiếc dương cầm. Tối đến, nàng thắp nến lên, ngồi trước dương cầm, và tiếng nhạc tràn ngập cả ngôi nhà.
      Khi Tachianan ngừng chơi và tắt nến đi thì một làn khói thơm tỏa ra khắp các phòng như quanh cây thông ngày lễ đầu năm.
       Varia không chịu được nữa.
       - Sao mẹ lại đụng vào đồ vật của người khác?
       Nó hỏi Tachiana
     - Mẹ cấm con, còn mẹ thì lại đụng vào đủ mọi thứ? Nào chuông, nào nến, nào đàn. Mẹ lại còn đặt những bản nhạc của người ta lên trên dương cầm nữa.
       - Vì mẹ là người lớn.
       Tachiana trả lời.
       Varia chau mày, ngờ vực nhìn mẹ. Lúc này Tachiana không giống người lớn một chút nào. Mặt nàng tươi hẳn lên và nom nàng giống cô gái tóc vàng đã đánh rơi chiếc hài pha lê trong hoàng cung nhiều hơn. Chính Tachiana đã kể cho Varia nghe chuyện cô gái ấy.


***
     
      
Railroad tracks - Isaac Levitan         Ngồi trên tàu hoả, trung uý Nicolai Potapov đã tính rằng anh chỉ có thể ở với cha nhiều lắm là hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Hạn nghỉ phép thì ngắn mà cuộc hành trình đã chiếm gần hết thời gian.
        Tàu hoả tới thành phố vào ban ngày. Vừa bước chân xuống ga, trung uý được ông lão trưởng ga là người quen cho biết cha anh mất đã một tháng và hiện giờ một nữ ca sĩ trẻ cùng đứa con gái đang ở nhà anh.
         - Chị ta người tản cư.
          Ông trưởng ga nói.
        Nicôlai im lặng nhìn ra ngoài cửa kính, nơi những hành khách mặc áo bông, đi ủng dạ, tay cầm ấm nước, đang chạy. Anh thấy chóng mặt.
         - Vâng - trưởng ga nói - Cụ nhà là người thật tốt bụng. Thế mà cụ chết đi mà không kịp gặp con trai.
         - Bao giờ lại có tàu ra, thưa bác?
         Nicôlai hỏi.
         - Năm giờ sáng mai - Ông lão nói, rồi im lặng một lát và nói tiếp - Anh lại đàng tôi đi. Bà lão nhà tôi sẽ pha trà, dọn bữa tối cho anh. Anh về nhà bây giờ cũng vô ích.
         - Cám ơn bác.
          Nicôlai trả lời và bước ra.
         Ông trưởng ga nhìn theo, lắc đầu.
  

http://direct1.anhso.net/540/5/54619/1022011225411699.jpg       Nicôlai đi qua tỉnh lỵ về bờ sông. Phía trên là một bầu trời xanh xám. Tuyết lơ thơ, bay chênh chếch giữa trời và đất. Mấy con quạ bước đi bước lại trên con đường có những đống phân ủ. Trời sẩm tối. Gió thổi từ bên kia bờ sông, từ những cánh rừng, làm anh chảy nước mắt.
         - Làm sao được! - Nicôlai nói! - Ta về chậm quá! Và giờ đây cái tỉnh lỵ này, cả con sông và ngôi nhà - giờ đây  đối với ta gần như hoàn toàn xa lạ!

http://uploads0.wikipaintings.org/images/isaac-levitan/evening-golden-plyos-1889.jpg       Anh ngoảnh nhìn về phía sườn dốc bên kia thành phố. Ở đó, khu vườn nằm trong băng bụi và ngôi nhà ánh lên một màu đen.Khói bay ra từ ống khói của ngôi nhà. Gió đưa khói bay về cánh rừng bạch dương.
        Nicôlai thong thả bước về phía nhà mình. Anh định không vào nhà mà chỉ đi ngang thôi, cũng có thể rẽ vào vườn đứng một lát trong cái lầu nghỉ chân cũ kĩ. Anh không sao chịu nổi khi nghĩ rằng trong ngôi nhà của cha anh giờ đây đã có những người hoàn toàn xa lạ, vô tình đến ở. Tốt hơn là chẳng nhìn thấy gì hết để khỏi phải đau lòng, cứ đi đi và lãng quên dĩ vãng.
" Ồ - Nicôlai nghĩ bụng - Con người mỗi ngày một trưởng thành, mỗi ngày nhìn sự vật chung quanh một cách khắc khổ hơn."    

        Nicôlai về đến nhà khi trời tối. Anh nhẹ nhàng mở cửa vào vườn, nhưng nó vẫn kêu ken két. Mảnh vườn như giật mình. Tuyết đọng trên cành rơi xào xạc. Anh nhìn quanh. Trên con đường nhỏ dẫn tới phong đình, tuyết đã được dọn sạch sẽ. Nicôlai vào trong lầu, đặt hai bàn tay lên cái lan can cũ kĩ. Đằng xa, bên kia rừng, bầu trời hồng lên mờ nhạt: có lẽ trăng đã nhô ra sau những đám mây. Nicôlai cất mũ, lấy tay vuốt tóc. Chung quanh anh yên lặng, chỉ ở dưới kia, dưới chân đồi, mấy người đàn bà xách những chiếc xô rỗng kêu loảng xoảng đi lấy nước ở các lỗ băng.
        Anh chống cùi tay trên lan can, nói khẽ:
         - Có thể nào lại như thế?

       Có ai đó nhè nhẹ chạm vào vai anh. Nicôlai ngoảnh lại. Đằng sau anh là một thiếu phụ trẻ, có khuôn mặt xanh xao và nghiêm trang, đầu trùm khăn len. Thiếu phụ nhìn anh bằng đôi mắt sâu thẳm và chăm chú. Trên mi mắt và má nàng những bông tuyết tan dần. Có lẽ đó là tuyết trên cành rơi xuống.
         -Anh đội mũ vào kẻo cảm lạnh đấy! - Thiếu phụ nói khẽ - Mời anh vào nhà. Không nên đứng ở đây.
        Nicôlai im lặng. Thiếu phụ nắm lấy tay áo của anh và dẫn anh theo những con đường nhỏ đã được dọn sạch. Nicôlai dừng lại ở bên thềm. Xúc động làm anh nghẹn ở cổ họng, không sao thở được. Thiếu phụ vẫn nói khe khẽ:

         - Không sao, xin anh đừng ngại vì chuyện ở đây có tôi . Cảm giác đó sẽ qua ngay thôi.
       Nàng giậm chân để rũ tuyết bám vào giày. Tức khắc quả chuông ở phòng mắc áo reo lên lanh lảnh đáp lại. Nicôlai thở dài thực mạnh, lấy hơi.


At the summer house in twilight - Isaac Levitan       Anh bước vào nhà, vẻ bối rối, lẩm bẩm điều gì. Ở phòng ngoài, mới cởi áo choàng anh đã ngửi thấy mùi khói bạch dương thoang thoảng và nhìn thấy con mèo Arkhiv. Nó đang ngồi trên đi văng, ngáp dài. Một cô bé tóc bím đứng bên đi văng và nhìn anh bằng cặp mắt sung sướng, nhưng không nhìn mặt anh mà nhìn mấy viền vàng trên tay áo anh.
       -Vào đây, anh! - Tachiana nói và dẫn anh vào bếp.
       Trong bếp, anh thấy có bình giếng nước lạnh và chiếc khăn tay gai quen thuộc thêu hình những chiếc lá sồi đã được treo sẵn ở đấy.
        Tachiana trở ra. Đứa con gái mang xà phòng cho Nicôlai và nhìn anh cởi áo, rửa mặt. Nỗi bối rối trong lòng anh vẫn chưa tan.
          - Mẹ cháu là ai vậy?
          Anh hỏi con bé và đỏ ửng mặt. Anh hỏi câu đó chỉ để mà hỏi.
         - Mẹ cháu tưởng mẹ cháu là người lớn. - Con bé thì thầm với một vẻ bí mật.- Nhưng mẹ cháu chẳng phải là người lớn tẹo nào. Mẹ cháu chỉ là một cô bé nhóc còn xoàng hơn cả cháu nữa kia.
          - Tại sao vậy? - Anh hỏi
           Nhưng con bé không trả lời, nó nhoẻn miệng cười và chạy ra ngoài. 


          Suốt buổi tối anh không sao xua đuổi được cái cảm giác kỳ lạ là mình đang ở trong một giấc mộng nhẹ nhàng nhưng rất vững chắc. Mọi vật trong nhà xếp đặt đúng theo ý anh muốn. Vẫn những bản nhạc ấy trên đàn dương cầm, vẫn những cây nến hình xoắn ốc đang cháy, nổ tí tách và chiếu sáng phòng làm việc của cha anh. Cả những bức thư anh gửi từ bệnh viện về cũng nằm trên bàn, dưới chiếc địa bàn cũ mà ngày trước ông cụ vẫn thường dùng chặn lên trên những bức thư.
         Uống trà xong, Tachiana dẫn Nicôlai ra thăm mộ cha anh ở bên kia rừng . Mặt trăng mờ mờ đã lên cao. Những cây bạch dương lấp loáng một cách yếu ớt trong ánh trăng, ném những bóng nhẹ xuống tuyết.
          Đêm đã khuya, Tachiana ngồi trước dương cầm, nhẹ nhàng lựa phím đàn, rồi ngoảnh lại nhìn Nicôlai và nói:
         - Tôi cứ có cảm giác là tôi đã gặp anh ở đâu rồi.
         - Vâng, cũng có lẽ - anh đáp.
        Nicôlai nhìn thiếu phụ. ánh nến ở bên cạnh soi sáng nửa khuôn mặt nàng. Anh đứng dậy đi đi lại lại trong phòng rồi dừng lại. Anh nói giọng trầm trầm:

         - Không, tôi không sao nhớ ra được!
         Tachiana ngoảnh lại, sợ sệt nhìn Nicôlai nhưng không nói gì hết.
         Nàng đã sửa soạn chỗ ngủ cho Nicôlai trên chiếc đi văng trong phòng làm việc, nhưng anh không sao chợp mắt được. Mỗi phút trong ngôi nhà này đối với anh thực sự quý báu và anh không muốn bỏ mất phút nào. Anh nằm, chăm chú nghe bước chân rón rén của con mèo Arkhiv, tiếng đồng hồ tích tắc, tiếng thì thào của Tachiana với người vú già sau cánh cửa đóng. Rồi những giọng nói im bặt, người vú đã đi, nhưng vệt sáng ở dưới cánh cửa vẫn không tắt. Anh nghe thấy tiếng lật giở các trang giấy loạt soạt: chắc Tachiana còn đọc sách. Anh đoán nàng thức cốt để gọi anh dậy cho kịp tàu. Anh muốn nói với nàng rằng anh cũng không ngủ, nhưng anh không dám gọi.
        Bốn giờ sáng, Tachiana khe khẽ mở cửa và gọi Nicôlai. Anh cựa mình.
         - Anh dậy đi thôi, đến giờ rồi! - Nàng nói - Tôi rất tiếc phải đánh thức anh.
        Tachiana tiễn anh ra ga. Hai người đi qua tỉnh lỵ còn đang ngủ im lìm. Sau hồi chuông thứ hai họ từ giã nhau. Tachiana đưa cả hai tay cho Nicôlai và nói:
         - Anh nhớ viết thư nhé! Giờ đây chúng ta đã là những người thân. Phải không?
        Nicôlai không trả lời, anh chỉ gật đầu.
        Mấy hôm sau, Tachiana nhận được một bức thư của Nicôlai viết ở dọc đường:

" Tôi đã nhớ ra chúng ta gặp nhau ở đâu - anh viết -nhưng tôi không muốn nói với em khi còn ở nhà. Em còn nhớ Krưm năm hăm bảy không? Mùa thu. Những cây tiêu huyền cổ thụ ở công viên Livadia. Trời u ám, biển nhợt nhạt. Tôi đi theo con đường nhỏ tới Oreanđa. Trên chiếc ghế dài bên đường có một thiếu nữ ngồi. Cô ta chừng mười sáu tuổi. Trông thấy tôi, cô ta đứng dậy và đi về phía tôi. Khi chúng tôi đi ngang nhau, tôi liếc nhìn cô. Cô ta đi qua tôi rất nhanh, nhẹ nhàng, tay cầm một cuốn sách mở rộng. Tôi dừng lại, nhìn theo cô ta rất lâu. Thiếu nữ đó là em. Tôi không thể nhầm được. Tôi nhìn theo em và cảm thấy rằng người con gái vừa đi qua bên cạnh tôi, người có thể làm tan vỡ cả đời tôi mà cũng có thể đem lại hạnh phúc cho tôi. Tôi hiểu rằng mình có thể yêu người con gái ấy đến hy sinh cả thân mình. Lúc đó tôi đã biết rằng phải tìm em cho bằng được, dù cho có phải trả bất cứ giá nào. Tôi nghĩ như vậy, nhưng vẫn cứ đứng lặng. Vì sao - tôi cũng chẳng hiểu. Từ ngày ấy tôi yêu Krưm và con đường nhỏ, nơi tôi đã gặp em trong giây lát và như mất em vĩnh viễn. Nhưng cuộc đời đã thương tôi và tôi lại được gặp em. Nếu mọi việc đều ổn thoả và em cần đến cuộc đời tôi, thì tất nhiên nó sẽ là của em. À, tôi đã thấy bức thư của tôi bị bóc ra để trên bàn cha. Tôi đã hiểu tất cả và tôi chỉ biết từ nơi xa xôi này gửi lời cám ơn em."

        Tachiana đặt lá thư xuống, đôi mắt mơ màng nhìn qua cửa sổ ra mảnh vườn tuyết phủ:
         - Trời, mình có ở Krưm bao giờ đâu? Chưa bao giờ! Nhưng lúc này cái đó có gì là quan trọng? Và để cho anh ấy tuyệt vọng làm gì? Và cả mình nữa!
        Nàng cười, đưa tay lên che mắt. Ngoài cửa sổ, hoàng hôn mờ mờ vẫn còn cháy đỏ, mãi không sao tắt được.
1943.
(Kim Ân (**)- dịch)

http://www.intofineart.com/upload1/file-admin/images/new12/Levitan,%20Isaak-884348.jpg


-----------------------------------------------------------------------

HG: Mình yêu mến Paustovxky từ khi... chưa biết đọc thứ nào ông viết, chỉ biết tên của ông qua một đoạn văn mà mẹ hay ngân nga:
"Chỉ có trong tưởng tượng, màu sắc mới không bao giờ phai nhạt mà thôi...
Chỉ có trong tưởng tượng, tuổi trẻ mới bất tận và tình yêu mới không tắt bao giờ.
Chỉ có trong tưởng tượng, làn gió nhẹ mới không ngừng thổi tới những miền đầy hoa đua nở, và vầng trăng lưỡi liềm mới lấp lánh suốt ngày đêm trên bầu trời.
Chỉ có trong tưởng tượng, ta mới có thể cười với Puskin, nắm bàn tay khô cằn của Dickenx, và gặp lại những bông hoa biếc xanh của nàng Ophelia..."

Hồi đó mẹ bảo rằng Paustovxky viết như vậy... Mình chưa tự đọc thấy những dòng văn ấy bao giờ. Gần đây, mình cũng đã thử tìm trên mạng mấy lần cốt kiểm tra lại cho đúng tác giả mà chưa tìm được... Thôi không tìm kiếm nữa, bởi dẫu ngọn lửa nhen nhóm kỳ diệu đó là đúng từ ông hay không, thì tình cảm của mình với thứ văn chương ấm áp, nhân hậu, trong lành, mang đậm chất thơ của ông vĩnh viễn không bao giờ tắt. Tình cảm yêu mến đó không phải chỉ có trong tưởng tượng, giống như nỗi đau xót này hoàn toàn là hiện thực: "Ta đã lớn.Và Pautốpxki đã chết." (*)

---------------------------------------------------

(*) Lời thơ Bằng Việt
(**) Kim Ân là bút danh của nhà văn Vũ Thư Hiên- tác giả cuốn hồi kí Đêm giữa ban ngày. Hiện nay, ông đang tỵ nạn tại Pháp.


http://i10.photobucket.com/albums/a108/grenouille_vert/PortraitofIsaakLevitan.jpg
Isaac Ilyich Levitan (1860-1900). Họa sĩ V.A.Serov 1893
 
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEh6ZFH7FMfvj3HZuRWyf_WSUPKNRohhiRHPHs2fAhLdCG7PmQdE1Nh6qPLhDtwu7kZYAzMtDRhb2y59QSFSHHRU_P9eidPW1mC9vzQMeDZG4fkz6wA3OORshj4wpy7_CEQQL0VX7beVCjb5/s1600/Pauxt%25C3%25B4pxki.jpg
Konstantin Georgiyevich Paustovsky (1892- 1968)

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Năm mươi câu Kiều hay nhất

Vương Trọng

         Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có 3.254 câu. Là một tuyệt tác, nên nói chung, câu nào cũng hay, tuy mức độ khác nhau. Như vậy có nghĩa là có câu hay nhiều, câu hay ít, thế mà từ xưa đến nay, ta chưa thấy các nhà nghiên cứu, phê bình chỉ cho bạn đọc biết những câu thơ điển hình trong Truyện Kiều, trong khi bài viết khen Truyện Kiều có số lượng hết sức đồ sộ.

      Phải chăng các nhà nghiên cứu, phê bình không muốn làm điều đó, nghĩa là không muốn thống kê những câu Kiều hay nhất vì sợ “tủi thân” những câu không được nhắc tới, trong khi chúng vẫn là những câu thơ hay trong thi đàn nói chung. Hay là các nhà nghiên cứu, phê bình sợ những câu mình nêu ra không đúng với cách thẩm định của người khác? Tôi nghĩ rằng, mọi sự so sánh, lựa chọn là tương đối, tuy nhiên với những người thấu hiểu Truyện Kiều, những câu họ chọn lựa, dù không được bạn đọc đồng tình một trăm phần trăm, thì phần lớn cũng được đông đảo chấp nhận.
     Một trong rất nhiều lý do để Truyện Kiều trở thành tuyệt tác có một không hai trong lịch sử văn học nước ta hơn hai thế kỷ qua là nhiều câu thơ trong tác phẩm này có sức thoát ly hoàn cảnh cụ thể của tác phẩm để tự lập sống cuộc đời riêng trong từng hoàn cảnh của độc giả. Không chỉ những “năm Gia Tĩnh triều Minh”, không chỉ thời cụ Nguyễn Du, mà ngày nay, khi yêu nhau, một chàng trai tặng quà cho bạn gái của mình, thì có thể dùng ngay lời của Kim Trọng nói khi tặng quà cho Thúy Kiều, hết sức văn hóa và tế nhị vì biết giảm nhẹ giá trị vật chất, nhấn mạnh giá trị kỷ niệm:
Rằng: trăm năm kể từ đây
Của tin gọi một chút này làm ghi.

     Rồi khi tình yêu đang nồng nàn, vì lẽ gì đó, đôi lứa phải xa nhau, chàng trai nào mà chẳng muốn dặn dò người tình chung thủy, giữ gìn mọi thứ vì tình yêu của họ. Dặn người yêu chung thủy, giữ gìn là một câu không dễ tìm ra lời, vì có thể làm người yêu phật ý… Trong khi bạn đang lúng túng chưa biết dùng lời lẽ thế nào để chuyển tải ý ấy, thì tốt nhất, hãy mượn ngay lời chàng Kim đã dặn Thúy Kiều trước lúc chia tay về nhà hộ tang chú:
Gìn vàng, giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
     Hồi còn trai trẻ, tôi yêu một cô gái là giáo viên. Hôm cô bạn dẫn về nhà để tôi “thưa chuyện” với bố cô về chuyện tình yêu chúng tôi. Lúc đó tôi như “bỏ quên trí khôn ở nhà”, lúng túng mãi mới diễn đạt được điều mình muốn nói. Khi nói xong, tôi căng thẳng chờ ý kiến của ông, rất sợ ông khước từ vì lý do khoảng cách hai quê quá xa xôi, hơn nữa, tôi nghĩ rằng nếu ông đồng ý thì cũng sẽ “thuyết giáo” dài dòng chứ không đơn giản gật đầu. Không ngờ, nghe xong tôi trình bày, ông đọc:
Thương sao cho trọn thì thương
Tính sao cho vẹn mọi đường, thì vâng!
     Làm tôi tiêu tan hết căng thẳng, và chuyển sang nói chuyện với ông không phải với tư cách giữa con rể và bố vợ tương lai, mà của hai người cùng tâm đắc Truyện Kiều.
    Thế đấy, có những câu Kiều không những giúp người ta chuyển tải ý kiến của mình một cách trọn vẹn hết sức văn hóa, mà xích những người xa lạ gần lại với nhau!
    Hai câu Nguyễn Du tả mụ Tú Bà của mấy thế kỷ trước giúp ta ngày nay có thể thốt hết khi thấy một người đàn bà to béo mà mình ít cảm tình:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn chi to lớn đẫy đà làm sao!
     Rồi:
Đàn bà dễ có mấy tay
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan
     có thể đọc lên rất “đắc địa” sau khi nghe chuyện kể về một người đàn bà cay nghiệt, dù bà ta chẳng có gì liên quan với Hoạn Thư cả.
     Chỉ đơn cử vài ba ví dụ để nói rằng, rất nhiều câu Kiều có thể thoát ly Truyện Kiều mà sống trong cuộc sống hàng ngày, làm giàu thêm ngôn ngữ chúng ta. Nói chung phần lớn những câu Kiều hay đều có sức sống độc lập như thế.
      Khi ngồi chọn những câu thơ hay trong Truyện Kiều, tôi chợt nhớ ý thơ của Trần Mạnh Hảo: “Tháng Tư phây phây như một trái xoài / Mấy lần anh lên cây rồi tụt xuống / Quả bốn bề không hái được chỉ vì… sai ”. Truyện Kiều có quá nhiều câu hay, nên chọn câu hay, thật khó! Lúc đầu tôi “sơ tuyển” 100 câu thì chưa đến nỗi khó lắm, nhưng khi rút xuống 50, thật nan giải, gạt bỏ câu nào cũng thấy tiếc.
    Để giúp các bạn trẻ thời nay vì quá bận rộn với kinh tế thị trường, không có đủ thời gian đọc hết toàn bộ Truyện Kiều, tôi xin chọn 50 câu (50 cặp lục bát) mà tôi cho là hay nhất, để trong một quãng thời gian ngắn, bạn đọc có thể tiếp cận với những câu Kiều đặc sắc, đồng thời với các bạn đang yêu, may chăng từ những câu Kiều này, có thể “hoạt ngôn” hơn trong những trạng thái khó xử của cuộc sống.

 NĂM MƯƠI CÂU KIỀU HAY NHẤT
(Số thứ tự đánh theo thứ tự xuất hiện trong Truyện Kiều)

1- Cỏ non xanh tận chân trời 
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

2- Sống làm vợ khắp người ta 
Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

3- Người đâu gặp gỡ làm chi 
Trăm năm biết có duyên gì hay không.

4- Ngổn ngang trăm mối bên lòng 
Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình.

5- Một mình lưỡng lự canh chầy 
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

6- Sầu đong càng khắc càng đầy 
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê.

7- Mành tương phất phất giò đàn 
 Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

8- Gió chiều như giục cơn sầu
Vi lô hiu hắt như mầu khơi trêu.

9- Rằng: trăm năm, kể từ đây 
Của tin gọi một chút này làm ghi

10- Bây giờ rõ mặt đôi ta 
 Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao

11- Gìn vàng giữ ngọc cho hay 
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.

12- Trăng thề còn đó trơ trơ 
Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng.

13- Ông tơ ghét bỏ chi nhau 
Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.

14- Đau lòng tử biệt sinh ly 
Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên.

15- Phận sao đành vậy cũng vầy 
Cầm như chẳng đỗ những ngày còn xanh.

16- Trong tay đã sẵn đồng tiền 
Dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì.

17- Đau lòng kẻ ở người đi 
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm.

18- Biết thân đến bước lạc loài
 Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

19- Miếng ngon kề đến tận nơi 
Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham.

20- Đoạn trường thay lúc phân kỳ 
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.

21- Thôi con còn nói chi con 
Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người.

22- Từ đây góc bể bên trời 
 Nắng mưa thui thủi quê người một thân.

23- Vi lô san sát hơi may 
Một trời thu để riêng ai một người.

24- Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi 
 Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

25- Thoắt trông nhờn nhợt màu da 
 Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao.

26- Thương ôi tài sắc bậc này 
 Một dao oan nghiệt đứt dây phong trần.

27- Cũng liều nhắm mắt đưa chân 
 Để xem con tạo xoay vần đến đâu.

28- Đêm thu khắc lậu, canh tàn 
 Gió cây trút lá, trăng ngàn ngậm gương.

29- Thân lươn bao quản lấm đầu 
 Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

30- Vui là vui gượng kẻo là 
 Ai tri âm đó mặn mà với ai.

31- Đã đày vào kiếp phong trần 
 Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

32- Rõ ràng trong ngọc trắng ngà 
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

33- Thương sao cho trọn thì thương 
 Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng.

34- Vầng trăng ai xẻ làm đôi 
 Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

35- Long lanh đáy nước in trời 
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

36- Bước vào phòng cũ lầu thơ 
Tro than một đống, nắng mưa bốn tường.

37- Bốn phương mây trắng một màu 
 Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

38- Bề ngoài thơn thớt nói cười 
Mà trong nham hiểm giết người không dao.

39- Nhẹ như bấc, nặng như chì 
 Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên.

40- Phận bèo bao quản nước sa 
 Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

41- Biết thân tránh chẳng khỏi trời 
 Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

42- Đến bây giờ mới thấy đây 
 Mà lòng đã chắc những ngày một hai.

43- Tiếc thay chút nghĩa cũ càng 
 Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.

44- Đàn bà dễ có mấy tay 
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan.

45- Phong trần mài một lưỡi gươm 
 Những phường giá áo túi cơm sá gì.

46- Chọc trời khuấy nước mặc dầu 
 Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.

47- Một cung gió thảm mưa sầu 
 Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.

48- Đánh tranh chụm nóc thảo đường 
Một gian nước biếc mây vàng chia hai.

49- Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê 
 Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.

50- Tưởng bây giờ là bao giờ 
 Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao.

     Nếu chỉ được chọn 10 câu (top ten), tôi tiến cử danh sách sau:
1- Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng.

2- Một mình lưỡng lự canh chầy
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh.

3- Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

4- Cũng liều nhắm mắt đưa chân
Để xem con tạo xoay vần đến đâu.

5- Thân lươn bao quản lấm đầu
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa.

6- Đã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.

7- Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng.

8- Bốn phương mây trắng một mầu
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

9- Biết thân tránh chẳng khỏi trời
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.

10- Phận bèo bao quản nước sa
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.

       Có thể mười câu tôi cho là hay nhất, không đúng với cách chọn lựa của những người khác. Nhưng tôi tin, phần lớn số câu trong 50 câu trên kia sẽ có mặt trong danh sách 50 câu Kiều hay nhất tự chọn của mọi người yêu mến Truyện Kiều.


Thứ Hai, 5 tháng 8, 2013

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung…

                                                                                             Tản văn 
                                                                                                                       Phạm Lữ Ân
Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn. (Indira Gandhi)

***
       Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi ưa vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên cô muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa "Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!" Nhưng cô bé cương quyết: "Con không muốn nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may". Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu "Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con!".
       Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?
       Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ "nổi tiếng". Có lẽ Byron nói đúng "Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ". Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta đi lạc đường hay không?

       Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi. Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, bạn có thể trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó. Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chính xác là chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu kề bên khu chợ nhỏ xíu ở một trị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai?
        Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn bắt buộc phải làm.
       Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha mình ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch tốt cho sức khỏe và có chất lượng hảo hạng.
       Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với ước mơ ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối.
       Tôi nhận ra rằng, thực ra, mục tiêu của ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.
       Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường cả. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học là để mình có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó kiếm về cho mình thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

       Mỗi một con người đều có vai trò của mình trong cuộc đời này và đều đáng được ghi công. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ chúng ta, phần đông, làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti.
       Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học đoạt giải Nobel thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau muống? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính?
       Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vượt lên từng ngày. Bởi luôn luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường. Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, sự nổi tiếng giống như một tai nạn, xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp.
       Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người nói rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mãi không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống "tầm thường", họ chẳng tiếc nuối chi.
       Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé: "Còn thời cưỡi ngựa bắn cung. Hết thời cúi xuống lượm (dây) thun... bắn ruồi." Oprah Winfrey có nói "Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai". Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu được mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Ai trong chúng ta đủ ngốc nghếch để tin rằng mình có thể giương cung được mãi?
       Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản mới cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ta chỉ tập trung vào cái ta đang thực hiện và "một khi tôi đã quyết chuyện gì là tôi theo đuổi cho tới cùng". Ông học làm gốm từ cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm, và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm gốm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.
       Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này sẽ tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi chỉ là một thợ gốm học việc, ông cũng vẫn tận tâm như vậy. Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi: được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích.

         Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

                            (Trích: Nếu biết trăm năm là hữu hạn – Phạm Lữ Ân)

-----------------------------------------------

Xem hai bài của Phạm Lữ Ân mà blog đã đăng (link đến những bài đó bằng cách nhắp chuột phải vào tên bài):
Một lần nữa, xin cảm ơn người bạn đã tặng HG cuốn sách này! (Để nếu một ngày bạn lang thang trên mạng mà tình cờ ghé qua đọc thấy lời nhắn đó, bạn sẽ nhận ra HG :)) 

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2013

Đôi bờ



http://www.outdoors.ru/foto/album_a/34769.jpg





ĐÔI BỜ
                                                                                                                    G.M.Pozhenyan [*]
      Suốt đêm qua trời mưa
      Lên lá xanh, cành mục.
      Ai cũng nói rằng em
      Được yêu và hạnh phúc.

      Cả em, em cũng tin.
      Dù trái tim không vậy -
      Chúng ta ở đôi bờ
      Một dòng sông nào đấy.

      Đàn chim bay từng đôi,
      Như sóng kề bên sóng.
      Các bạn gái có đôi,
      Chỉ mình em thất vọng.

      Nhưng em chờ, em tin,
      Dù trái tim không vậy -
      Chúng ta ở đôi bờ
      Một dòng sông nào đấy.

      Suốt đêm qua trời mưa,
      Nhưng bình minh đã tới.
      Chỉ mình anh, mình anh,
      Mình anh em chờ đợi. 
                                                                                                                       Thái Bá Tân (dịch)

Bài hát "Đôi bờ", giọng hát Thảo Vân:


                                                                                     


http://img.blog.zdn.vn/25006489.jpg 



http://honghoagiaochu.files.wordpress.com/2012/04/thic3aannga.jpg



http://www.hivietnam.net/vi/docs/2013/04/Doi-bo-song-Thu_1.png



 http://www.kimtin.vn//uploads/News_5_2011/Doi%20bo%2024.jpg

-------------------------------------------------

[*] "Đôi bờ" (tiếng Nga: Два берега), lời của Grigorii Mikhailovich Pozhenyan, nhạc của Andrey Yakovlevich Eshpai, được viết cho bộ phim của Liên Xô tên là Жажда (Khát nước) năm 1959. Ban đầu bài hát có tên là "Bài hát của Ma-sa" (Песня Маши) (Ma-sa là tên của một nhân vật nữ trong bộ phim. Người yêu của cô- một đại úy chỉ huy  một đơn vị đặc nhiệm của lính thủy thuộc hạm đội Hắc Hải- cuối cùng đã hy sinh anh dũng cùng nhiều đồng đội trong một trận đột kích chiếm lại và vận hành trạm cấp nước đã bị quân Đức chiếm giữ, cứu người dân thành phố Odessa đang khô khát...) Nội dung bài ca, theo nguyên tác, nói về một mối tình vô vọng của một cô gái mà chính bản thân cô cũng nhận thức được, nhưng sâu thẳm tận đáy lòng mình, cô lại không hề muốn tin và vẫn hy vọng, đợi chờ. Cô và người cô yêu dường như mãi mãi ở đôi bờ, cách biệt nhau một dòng sông... Tiếng hát của Masa cất lên trong diễn biến bộ phim đã như một dự cảm không lành. Lời Việt cho bài ca- không rõ của ai- rất trữ tình, nhưng khá xa ý nghĩa gốc của bài hát.